4.5. Qualities of a teacher‘This spot, Nāgasena, is free from the objections to talking matters over. And I am a model companion for any one desiring to do so. I can keep a secret, and will keep yours as long as I live. In all the eight ways just described my insight has grown ripe. It would be hard to find such a pupil as you may have in me. |
4.5. Phẩm chất của một người thầyThưa tôn giả Nāgasena, điểm này không có sự phản đối nào đối với việc nói chuyện. Và trẫm là một người bạn đồng hành mẫu mực cho bất kỳ ai muốn làm như vậy. Trẫm có thể giữ bí mật, và sẽ giữ bí mật cho đến khi trẫm còn sống. Trong tất cả tám cách vừa mô tả, sự sáng suốt của trẫm đã chín muồi. Tôn giả sẽ khó có thể tìm được một học trò như trẫm. |
||||
‘Now towards a pupil who conducts himself thus aright the teacher ought to conduct himself in accordance with the twenty-five virtues of a teacher. And what are the twenty-five? He must always and without fail keep guard over his pupil. He must let him know what to cultivate, and what to avoid; about what he should be earnest, and what he may neglect. He must instruct him as to sleep, and as to keeping himself in health, and as to what food he may take, and what reject. He should teach him discrimination (in food), and share with him all that is put, as alms, into his own bowl. He should encourage him, saying: “Be not afraid. You will gain advantage (from what is here taught you).” He should advise him as to the people whose company he should keep, and as to the villages and Vihāras he should frequent. He should never indulge in (foolish) talk with him. When he sees any defect in him he should easily pardon it. He should be zealous, he should teach nothing partially, keep nothing secret, and hold nothing back. He should look upon him in his heart as a son, saying to himself: “I have begotten him in learning.” He should strive to bring him forward, saying to himself: “How can I keep him from going back? “He should determine in himself to make him strong in knowledge, saying to himself: “I will make him mighty.” He should love him, never desert him in necessity, never neglect him in anything he ought to do for him, always befriend him—so far as he can rightly do so —when he does wrong. These, Sir, are the twenty-five good qualities in a teacher. Treat me altogether in accordance therewith. Doubt, Lord, has overcome me. There are apparent contradictions in the word of the Conqueror. About them strife will hereafter arise, and in future times it will be hard to find a teacher with insight such as yours. Throw light for me on these dilemmas, to the downfall of the adversaries.’ |
‘Bây giờ đối với một học trò cư xử đúng đắn như vậy, người thầy phải cư xử theo đúng hai mươi lăm đức tính của một người thầy. Và hai mươi lăm đức tính đó là gì? Người thầy phải luôn luôn và không bao giờ được quên sự thiết lập sự hộ trì một cách thường xuyên liên tục, Người thầy phải cho học trò biết điều gì cần trau dồi và điều gì cần tránh; về điều gì học trò nên nghiêm túc và điều gì học trò có thể bỏ bê. Người thầy phải hướng dẫn học trò về cách ngủ, cách giữ gìn sức khỏe, về thức ăn nào học trò có thể ăn và thức ăn nào không ăn. Người thầy phải dạy học trò cách phân biệt (thức ăn), và chia sẻ với học trò tất cả những gì được bố thí vào bát của mình. Người thầy phải động viên học trò rằng: “Đừng sợ. Con sẽ được lợi (từ những điều được dạy ở đây)”. Người thầy phải khuyên học trò về những người mà học trò nên giao du, về những ngôi làng và tu viện mà học trò nên lui tới. Người thầy không bao giờ được nói chuyện (ngu ngốc) với học trò. Khi thấy học trò có khuyết điểm nào, người thầy phải dễ dàng tha thứ cho khuyết điểm đó. Người thầy phải nhiệt thành, không được dạy một phần nào, không được giữ bí mật, và không được giữ lại điều gì. Người thầy phải coi người đó như con trai mình, tự nhủ: “Ta đã sinh ra người đó trong sự học vấn.” Người thầy phải cố gắng đưa người đó tiến lên, tự nhủ: “Làm sao ta có thể ngăn cản người đó quay lại?” Người thầy phải quyết tâm trong chính mình làm cho người đó mạnh mẽ trong sự hiểu biết, tự nhủ: “Ta sẽ làm cho người đó trở nên hùng mạnh.” Người thầy phải yêu thương người đó, không bao giờ bỏ rơi người đó khi cần thiết, không bao giờ bỏ rơi người đó trong bất cứ việc gì mình phải làm cho người đó, luôn luôn kết bạn với người đó—trong chừng mực có thể làm như vậy một cách đúng đắn—khi người đó làm sai. Thưa Ngài, đây là hai mươi lăm phẩm chất tốt đẹp ở một người thầy. Hãy đối xử với trẫm hoàn toàn theo những phẩm chất đó. Ôi sự nghi ngờ đã chế ngự trẫm. Có những mâu thuẫn rõ ràng trong lời của Đấng Chiến Thắng. Về những điều đó, sau này sẽ nảy sinh xung đột, và trong tương lai sẽ rất khó tìm được một người thầy có hiểu biết như ngài. Hãy soi sáng cho trẫm những tình huống khó xử này, để đánh bại những kẻ thù. |
||||
4.6. Qualities of a lay discipleThen the Elder agreed to what he had said, and in his turn set out the ten good qualities which ought to be found in a lay disciple: ‘These ten, O king, are the virtues of a lay disciple. He suffers like pain and feels like joy as the Order does. He takes the Doctrine (Dhamma) as his master. He delights in giving so far as he is able to give. On seeing the religion (Dhamma) of the Conqueror decay, he does his best to revive it. He holds right views. Having no passion for excitement, he runs not after any other teacher his life long. He keeps guard over himself in thought and deed. He delights in peace, is a lover of peace. He feels no jealousy, and walks not in religion in a quarrelsome spirit. He takes his refuge in the Buddha, he takes his refuge in the Doctrine, he takes his refuge in the Order. These, great king, are the ten good qualities of a lay disciple. They exist all of them in you. Hence is it fit, and right, and becoming in you that, seeing the decay of the religion of the Conqueror, you desire its prosperity. I give you leave. Ask of me whatever you will.’ |
4.6. Phẩm chất của một người cư sĩSau đó, Trưởng lão đồng ý với những gì vua Milinda nói, và đến lượt mình, Trưởng Lão nêu ra mười phẩm chất tốt cần có ở một đệ tử tại gia: ‘Mười điều này, tâu đại vương, là những đức tính của một đệ tử tại gia. là cùng vui cùng khổ với hội chúng, lấy Giáo Pháp làm chủ, yêu thích việc bố thí tùy theo khả năng, sau khi nhìn thấy sự suy đồi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng thì nỗ lực cho sự phát triển, là người có chánh kiến, xa rời lễ hội náo nhiệt, không chạy theo bất kỳ vị thầy nào khác trong suốt cuộc đời mình thậm chí vì nguyên nhân mạng sống, thu thúc thân và ngữ, có sự vui thích trong sự hợp nhất, ưa thích sự hợp nhất, là người không ganh tỵ, và không thực hành giáo pháp theo cách dối trá, đã đi đến nương nhờ vào đức Phật, đã đi đến nương nhờ vào Giáo Pháp, đã đi đến nương nhờ vào Hội Chúng. Tâu đại vương, mười đức tính cư sĩ này là dành cho người cư sĩ. Tất cả chúng đều tồn tại trong ngài. Do đó, khi thấy sự suy tàn của tôn giáo của Đấng Chiến Thắng đại vương không mong muốn như vậy, đại vương mong muốn sự thịnh vượng của nó. Bần tăng cho phép đại vương. Hãy yêu cầu bần tăng bất cứ điều gì đại vương muốn.' |
||||
Here ends the introduction to the solving of dilemmas. |
Đến đây kết thúc phần giới thiệu về cách giải quyết tình huống khó xử. |
||||
5.1.1. On Honours Paid To the BuddhaThen Milinda the king, having thus been granted leave, fell at the feet of the teacher, and raising his clasped hands to his forehead, said: ‘Venerable Nāgasena, these leaders of other sects say thus: “If the Buddha accepts gifts he cannot have passed entirely away. He must be still in union with the world, having his being somewhere in it, in the world, a shareholder in the things of the world; and therefore any honour paid to him becomes empty and vain. On the other hand if he be entirely passed away (from life), unattached to the world, escaped from all existence, then honours would not be offered to him. For he who is entirely set free accepts no honour, and any act done to him who accepts it not becomes empty and vain.” This is a dilemma which has two horns. It is not a matter within the scope of those who have no mind, it is a question fit for the great. Tear asunder this net of heresy, put it on one side. To you has this puzzle been put. Give to the future sons of the Conqueror eyes wherewith to see the riddle to the confusion of their adversaries.’ |
5.1.1. Về sự tôn kính dành cho Đức PhậtBấy giờ vua Milinda, sau khi được cho phép, đã quỳ xuống chân vị thầy, chắp tay đưa lên trán và nói: ‘Thưa Tôn giả Nāgasena, những vị lãnh đạo của các giáo phái khác nói như thế này: ‘Nếu đức Phật chấp nhận sự cúng dường thì đức Phật chưa đạt Niết Bàn, Ngài phải vẫn còn hợp nhất với thế gian, có sự hiện hữu ở đâu đó trong thế gian, là người có cổ phần trong những thứ của thế gian; và do đó, bất kỳ sự tôn vinh nào dành cho Ngài đều trở nên trống rỗng và vô ích. và do đó, bất kỳ sự tôn vinh nào dành cho Ngài đều trở nên trống rỗng và vô ích. Mặt khác, nếu Ngài hoàn toàn viên tịch (khỏi cuộc sống), không còn dính mắc vào thế gian, thoát khỏi mọi sự tồn tại, thì sẽ không có sự tôn vinh nào được trao cho Ngài. Vì người hoàn toàn được giải thoát sẽ không chấp nhận sự tôn vinh, và bất kỳ hành động nào làm cho người không chấp nhận nó đều trở nên trống rỗng và không có phước báu.” Câu hỏi này có cả hai khía cạnh. Lãnh vực này không dành cho những kẻ tâm chưa đạt, lãnh vực này chỉ dành cho những bậc vĩ đại. Xin ngài hãy phá vỡ mạng lưới tà kiến này. Xin ngài hãy xác định về điều chắc thật. Câu hỏi này được dành cho ngài. Xin ngài hãy ban cho sự nhận thức đến những người con của đấng Chiến Thắng trong ngày vị lai để phản bác lại các học thuyết khác.” |
||||
‘The Blessed One, O king,’ replied the Elder, ‘is entirely set free. And the Blessed One accepts no gift. Even at the foot of the Tree of Wisdom he abandoned all accepting of gifts, how much more then now when he has passed entirely away by that kind of passing away which leaves no root over (for the formation of a new existence). For this, O king, has been said by Sāriputta, the commander of the faith: |
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã đạt Niết Bàn, và đức Thế Tôn không nhận sự cúng dường. Ngay tại cội cây Bồ Đề, đức Như Lai đã được dứt bỏ nhận sự cúng dường, vậy thì còn điều gì nữa đối với vị đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót? Tâu đại vương, điều này cũng đã được vị Trưởng Lão Sāriputtena nói đến: |
||||
By gods and men, unlike them all they heed Neither a gift nor worship. They accept It not, neither refuse it. Through the ages All Buddhas were so, so will ever be!”’ |
Bởi các vị chư Thiên và loài người, không giống họ, tất cả họ đều chú ý Không phải một món quà hay sự tôn thờ. Họ chấp nhận Nó không, cũng không từ chối nó. Qua các thời đại Tất cả các Đức Phật đều như vậy, và sẽ mãi mãi như vậy!”’ |
||||
The king said: ‘Venerable Nāgasena, a father may speak in praise of his son, or a son of his father. But that is no ground for putting the adversaries to shame. It is only an expression of their own belief, Come now! Explain this matter to me fully to the establishing of your own doctrine, and to the unravelling of the net of the heretics.’ |
Đức vua nói: ‘Thưa tôn giả Nāgasena, một người cha có thể khen ngợi con trai mình, hoặc người cha có thể khen ngợi con trai của mình. Nhưng đó không phải là lý do để làm cho những kẻ thù phải khó chịu. Đó chỉ là sự thể hiện niềm tin của chính họ, Bây giờ, Ngài hãy giải thích vấn đề này cho trẫm một cách đầy đủ để thiết lập giáo lý của riêng ngài, và để gỡ mạng lưới của những kẻ dị giáo.’ |
||||
The Elder replied: ‘The Blessed One, O king, is entirely set free (from life). And the Blessed One accepts no gift. If gods or men put up a building to contain the jewel treasure of the relics of a Tathāgata who does not accept their gift, still by that homage paid to the attainment of the supreme good under the form of the jewel treasure of his wisdom do they themselves attain to one or other of the three glorious states. Suppose, O king, that though a great and glorious fire had been kindled, it should die out, would it then again accept any supply of dried grass or sticks?’ |
Vị Trưởng Lão trả lời: ‘Thưa Đức Vua, Đức Thế Tôn đã đạt Niết-bàn Và Đức Thế Tôn không nhận sự cúng dường nào. Nếu chư thiên hay loài người dựng nên một tòa nhà để chứa kho báu châu báu là xá lợi của một Như Lai dẫu Ngài không nhận tặng phẩm của họ, thì bằng sự tôn kính dành cho việc đạt được điều tốt lành tối thượng dưới hình thức kho báu châu báu của trí tuệ của ngài, bản thân họ vẫn đạt được một trong ba trạng thái vinh quang. Thưa Đức Vua, giả sử rằng mặc dù một ngọn lửa lớn và vinh quang đã được thắp lên, nhưng nó sẽ tắt, thì nó có chấp nhận bất kỳ nguồn cung cấp cỏ khô hay cành cây nào không?’ |
||||
‘Even as it burned, Sir, it could not be said to accept fuel, how much less when it had died away, and ceased to burn, could it, an unconscious thing, accept it?’ |
‘Thưa Ngài, ngay cả khi nó đang cháy, người ta vẫn không thể nói rằng nó chấp nhận nhiên liệu có như cỏ và củi, huống hồ khi nó tắt hẳn và ngừng cháy, thì liệu nó, một vật vô thức, có thể chấp nhận nhiên liệu không?’ |
||||
‘And when that one mighty fire had ceased, and gone out, would the world be bereft of fire?’ |
Và khi ngọn lửa hùng mạnh đó đã tắt hẳn, thế giới sẽ không còn lửa nữa sao? |
||||
‘Certainly not. Dry wood is the seat, the basis of fire, and any men who want fire can, by the exertion of their own strength and power, such as resides in individual men, once more, by twirling the firestick, produce fire, and with that fire do any work for which fire is required.’ |
‘Chắc chắn là không. Củi gỗ là chỗ nền tảng, là cơ sở của lửa, và bất kỳ người nào muốn có lửa đều có thể, bằng cách sử dụng sức mạnh và năng lực của chính mình, như sức mạnh và năng lực có trong mỗi người, họ bằng cách xoay tròn que củi, tạo ra lửa, và với ngọn lửa đó, thực hiện bất kỳ công việc nào cần đến lửa.’ |
||||
‘Then that saying of the sectarians that “an act done to him who accepts it not is empty and vain” turns out to be false. As that great and glorious fire was set alight, even so, great king, was the Blessed One set alight in the glory of his Buddhahood over the ten thousand world systems. As it went out, so has he passed away into that kind of passing away in which no root remains. As the fire, when gone out, accepted no supply of fuel, just so, and for the good of the world, has his accepting of gifts ceased and determined. As men, when the fire is out, and has no further means of burning, then by their own strength and effort, such as resides in individual men, twirl the fire-stick and produce fire, and do any work for which fire is required—so do gods and men, though a Tathāgata has passed away and no longer accepts their gifts, yet put up a house for the jewel treasure of his relics, and doing homage to the attainment of supreme good under the form of the jewel treasure of his wisdom, they attain to one or other of the three glorious states. Therefore is it, great king, that acts done to the Tathāgata, notwithstanding his having passed away and not accepting them, are nevertheless of value and bear fruit.’ |
Thưa đại vương, lời nói của những người theo giáo phái tà giáo “một hành động được thực hiện đối với người không chấp nhận nó là vô ích, không có quả báu” là sai. Khi ngọn lửa lớn đã bốc cháy, cũng vậy, đại vương, Đức Thế Tôn đã được bốc cháy trong rực rỡ của Phật quả của mình trên mười ngàn thế giới. Khi nó tắt, thì Ngài đã ra đi vào loại ra đi không còn gốc rễ nào. Khi ngọn lửa, khi đã tắt, không chấp nhận nguồn cung cấp nhiên liệu, cũng vậy, và vì lợi ích của thế gian, việc Ngài chấp nhận các món quà đã chấm dứt và được xác định. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn bốc cháy rồi tắt ngấm, tương tợ y như thế đức Thế Tôn sau khi bốc cháy với vẻ rực rỡ của vị Phật trong mười ngàn thế giới rồi đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Giống như loài người, khi ngọn lửa tắt, và không còn phương tiện nào để đốt cháy nữa, thì bằng sức mạnh và nỗ lực của chính họ, như sức mạnh và nỗ lực của từng cá nhân, xoay que lửa và tạo ra lửa, và làm bất kỳ công việc nào cần đến lửa—cũng vậy, chư thiên và loài người, mặc dù một Đức Như Lai đã viên tịch và không còn nhận quà tặng của họ nữa, nhưng vẫn dựng một ngôi nhà cho kho báu xá lợi của ngài, và tỏ lòng tôn kính đến việc đạt được lợi ích tối thượng dưới hình thức kho báu châu báu trí tuệ của ngài, họ đạt đến ba sự thành tựu. Do đó, đại vương, những hành động được thực hiện đối với Đức Như Lai, mặc dù ngài đã viên tịch và không nhận chúng, tuy nhiên vẫn có giá trị và mang lại kết quả. |
||||
‘Now hear, too, another reason for the same thing. Suppose, O king, there were to arise a great and mighty wind, and that then it were to die away. Would that wind acquiesce in being produced again?’ |
Thưa đại vương, ‘bây giờ, hãy nghe một lý do khác cho cùng một điều. Giả sử có một cơn gió lớn và mạnh nổi lên, và sau đó nó biến mất. Liệu cơn gió đó có chấp nhận được tạo ra một lần nữa không?’ |
||||
‘A wind that has died away can have no thought or idea of being reproduced. And why? Because the element wind is an unconscious thing.’ |
Thưa tôn giả, một cơn gió đã tắt hẳn không thể có tư tưởng hoặc tác ý cho việc sanh lên lần nữa. Và tại sao? Bởi vì nguyên tố gió là một thứ vô thức. |
||||
‘Or even, O king, would the word “wind” be still applicable to that wind, when it had so died away?’ |
‘Thưa đại vương, liệu việc nhận biết về “gió” có còn áp dụng được cho cơn gió đó không, khi nó đã tắt hẳn? |
||||
‘Certainly not, Sir. But fans and punkahs are means for the production of wind. Any men who are oppressed by heat, or tormented by fever, can by means of fans and punkahs, and by the exertion of their own strength and power, such as resides in individual men, produce a breeze, and by that wind allay their heat, or assuage their fever.’ |
“Chắc chắn là không, thưa ngài. Nhưng cây quạt và cánh lá cây thốt nốt là phương tiện tạo ra gió. Bất kỳ ai bị nóng bức hoặc bị sốt hành hạ, đều có thể dùng quạt và cành lá cây thốt nốt, và bằng cách sử dụng sức mạnh và năng lượng của chính mình, như năng lượng tiềm ẩn trong mỗi người, tạo ra một làn gió, và nhờ làn gió đó, họ có thể làm dịu cơn nóng hoặc hạ sốt.” |
||||
‘Then that saying of the sectarians that “an act done to him who accepts it not is empty and vain” turns out to be false. As the great and mighty wind which blew, even so, great king, has the Blessed One blown over the ten thousand world systems with the wind of his love, so cool, so sweet, so calm, so delicate. As it first blew, and then died away, so has the Blessed One, who once blew with the wind so cool, so sweet, so calm, so delicate, of his love, now passed away with that kind of passing away in which no root remains. As those men were oppressed by heat and tormented with fever, even so are gods and men tormented and oppressed with threefold fire and heat. As fans and punkahs are means of producing wind, so the relics and the jewel treasure of the wisdom of a Tathāgata are means of producing the threefold attainment. And as men oppressed by heat and tormented by fever can by fans and punkahs produce a breeze, and thus allay the heat and assuage the fever, so can gods and men by offering reverence to the relics, and the jewel treasure of the wisdom of a Tathāgata, though he has died away and accepts it not, cause goodness to arise within them, and by that goodness can assuage and can allay the fever and the torment of the threefold fire. Therefore is it, great king, that acts done to the Tathāgata, notwithstanding his having passed away and not accepting them, are nevertheless of value and bear fruit.’ |
‘Tâu đại vương, vậy thì lời nói của những kẻ tà giáo rằng “một hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu’ là sai trái. Cũng như ngọn gió lớn và mạnh mẽ đã thổi, cũng vậy, thưa đại vương, Đức Thế Tôn đã thổi qua mười ngàn thế giới bằng ngọn gió tình yêu của Ngài, thật mát mẻ, thật ngọt ngào, thật bình tĩnh, thật tinh tế. Khi nó thổi đầu tiên, và sau đó tắt đi, cũng vậy Đức Thế Tôn, người đã từng thổi bằng ngọn gió mát mẻ, thật ngọt ngào, thật bình tĩnh, thật tinh tế của tình yêu của Ngài, giờ đây đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Cũng như những người đó bị áp bức bởi sức nóng và bị hành hạ bởi cơn sốt, cũng vậy các Chư Thiên và loài người bị hành hạ và áp bức bởi ba loại tham sân, si. Cũng như quạt và cành lá cây thốt nốt là phương tiện tạo ra gió, cũng vậy xá lợi và châu báu của trí tuệ của một Như Lai là phương tiện tạo ra ba sự thành tựu. Và như những người bị nóng bức và bị sốt hành hạ, có thể dùng quạt và cành lá cây thốt nốt tạo ra một làn gió, nhờ đó làm dịu cơn nóng và làm dịu cơn sốt, thì chư thiên và loài người, bằng cách cung kính xá lợi và trí tuệ quý báu của một Như Lai, mặc dù Ngài đã nhập diệt và không chấp nhận, cũng có thể khiến điều tốt lành khởi lên trong họ, và nhờ điều tốt lành đó, có thể làm dịu cơn sốt và sự hành hạ của ba ngọn lửa tham sân si. Vậy nên, thưa Đại Vương, những hành động đối với Như Lai, mặc dù Ngài đã nhập diệt và không chấp nhận, vẫn có giá trị và mang lại kết quả. |
||||
‘Now hear another reason. for the same thing. Suppose, O king, a man were to make a drum sound, and then that sound were to die away. Would that sound acquiesce in being produced again?’ |
Tâu đại vương, “ hãy nghe một lý do khác cho cùng một điều, giả sử có người đánh vào cái trống tạo nên âm thanh, rồi âm thanh của tiếng trống ấy tắt hẳn, liệu tiếng trống ấy cũng ưng thuận việc tạo ra lần nữa không?” |
||||
‘Certainly not, Sir. The sound has vanished. It can have no thought or idea of being reproduced. The sound of a drum when it has once been produced and died away, is altogether cut off. But, Sir, a drum is a means of producing sound. And any man, as need arises, can by the effort of power residing in himself, beat on that drum, and so produce a sound.’ |
Thưa tôn giả, chắc chắn là không. Âm thanh đã biến mất. Nó không thể nào nghĩ đến việc được tái tạo. Âm thanh của một cái trống, một khi đã được tạo ra và tắt đi, thì hoàn toàn bị cắt đứt. Nhưng thưa ngài, trống là một phương tiện tạo ra âm thanh. Và bất kỳ ai, khi cần, đều có thể dùng sức mạnh của chính mình để đánh vào cái trống đó, và tạo ra âm thanh.” |
||||
‘Just so, great king, has the Blessed One—except the teacher and the instruction he has left in his doctrine and discipline, and the jewel treasure of his relics whose value is derived from his righteousness, and contemplation, and wisdom, and emancipation, and insight given by the knowledge of emancipation—just so has he passed away by that kind of passing away in which no root remains. But the possibility of receiving the three attainments is not cut off because the Blessed One has passed away. Beings oppressed by the sorrow of becoming can, when they desire the attainments, still receive them by means of the jewel treasure of his relics and of his doctrine and discipline and teaching. Therefore is it, great king, that all acts done to the Tathāgata, notwithstanding his having passed away and not accepting them, are nevertheless of value and bear fruit. And this future possibility, great king, has been foreseen by the Blessed One, and spoken of, and declared, and made known, when he said: “It may be, Ānanda, that in some of you the thought may arise: |
‘Cũng vậy, thưa Đại Vương, Đức Thế Tôn—ngoại trừ vị Thầy và giáo huấn mà Ngài đã để lại Pháp và Luật, và lời giáo huấn đã được phát triển toàn vẹn nhờ vào Giới-Định-Tuệ-Giải Thoát-Trí Tuệ và Nhận Thức về sự Giải Thoát chính là bậc Đạo Sư, rồi đã tự mình Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Và không phải khi đức Thế Tôn đã Viên Tịch Niết Bàn thì việc đạt được các sự thành tựu là bị gián đoạn. Các chúng sanh bị hành hạ bởi khổ đau ở sự hiện hữu, sau khi sử dụng báu vật xá-lợi, Pháp, Luật, và lời giáo huấn làm điều kiện, rồi có ước muốn về sự thành tựu thì đạt được các sự thành tựu. Vì vậy, thưa Đại Vương, tất cả những hành động đã làm đối với Như Lai, mặc dù Ngài đã viên tịch và không chấp nhận chúng, vẫn có giá trị và mang lại kết quả. Và khả năng tương lai này, thưa đại vương, đã được Đức Thế Tôn dự kiến, đã được Ngài nói đến, đã được tuyên bố và đã được Ngài cho biết, khi Ngài nói: “Này Ānanda, có thể một số người trong các ngươi sẽ khởi lên ý nghĩ: |
||||
‘The word of the Master is ended. We have no Teacher more!’ But it is not thus, Ānanda, that you should regard it. The Truth which I have preached to you, the Rules which I have laid down for the Order, let them, when I am gone, be the Teacher to you.” So that because the Tathāgata has passed away and consents not thereto, that therefore any act done to him is empty and vain—this saying of the enemy is proved false. It is untrue, unjust, not according to fact, wrong, and perverse. It is the cause of sorrow, has sorrow as its fruit, and leads down the road to perdition!’ |
Có lời dạy của đấng Đạo Sư đã là quá khứ, còn (hiện nay) chúng ta không có bậc Đạo Sư. Này Ānanda, điều này không nên được nhận thức như thế. Này Ānanda, Pháp và Luật nào đã được thuyết giảng, đã được quy định bởi Ta, Pháp và Luật ấy, sau khi Ta tịch diệt, là bậc Đạo Sư của các ngươi.’ Vậy nên, vì Như Lai đã nhập diệt mà không ưng thuận, nên bất cứ hành động nào đối với Ngài đều là vô ích và trống rỗng – lời nói của kẻ thù này đã được chứng minh là sai lầm. Nó không đúng sự thật, không công bằng, không đúng sự thật, sai trái và ngang ngược. Nó là nguyên nhân của đau khổ, mang lại đau khổ làm quả, và dẫn đến con đường diệt vong!’ |
||||
‘Now hear another reason for the same thing. Does the broad earth acquiesce, O king, in all kinds of seeds being planted all over it?’ |
Thưa đại vương, bây giờ, hãy nghe một lý do khác cho cùng một điều, liệu đất rộng có chấp nhận đủ loại hạt giống được gieo trồng khắp nơi không?’ |
||||
‘Certainly not, Sir.’ |
Thưa tôn giả, chắc chắn là không. |
||||
‘Though the earth, Sir, gives no consent, yet it acts as a site for those seeds, as a means of their development. Planted on that site they grow, by its means, into such great trees with branches, flowers, and fruit.’ |
"Thưa tôn giả, tuy đất không cho phép, nhưng nó vẫn là nơi cho những hạt giống ấy phát triển. Được gieo trồng trên đó, nhờ đó chúng lớn lên thành những cây đại thụ với cành lá, hoa trái. |
||||
‘Then, great king, the sectaries are destroyed, defeated, proved wrong by their own words when they say that “an act done to him who accepts it not is empty and vain.” As the broad earth, O king, is the Tathāgata, the Arahat, the Buddha supreme. Like it he accepts nothing. Like the seeds which through it attain to such developments are the gods and men who, through the jewel treasures of the relics and the wisdom of the Tathāgata—though he have passed away and consent not to it—being firmly rooted by the roots of merit, become like unto trees casting a goodly shade by means of the trunk of contemplation, the sap of true doctrine, and the branches of righteousness, and bearing the flowers of emancipation, and the fruits of Samaṇaship. Therefore is it, great king, that acts done to the Tathāgata, notwithstanding his having passed away and not accepting them, are still of value and bear fruit.’ |
‘Vậy thì, thưa đại vương, chính vì điều ấy các giáo chủ tà giáo đã bị hư hoại, bị thất bại, bị mâu thuẫn ở lời nói của họ nếu họ nói rằng: ‘Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu.’ Như trái đất rộng lớn, thưa đại vương, thì Đức Như Lai, là bậc A La Hán, là đấng Chánh Biến Tri như thế. Giống như đại địa cầu, ngài không chấp nhận bất cứ điều gì. Giống như những hạt giống mà thông qua nó đạt đến những sự phát triển như vậy là các Chư Thiên và loài người loại nương vào xá-lợi và báu vật trí tuệ của đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, rồi tạo lập nền tảng vững chãi về pháp thiện, có thân cây là định, lõi cây là Pháp, và cành cây là giới tỏa rộng xung quanh, có mang hoa là sự giải thoát và quả là bản thể Sa-môn như thế ấy. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.” |
||||
‘Now hear another and further reason for the same thing. Do camels, buffaloes, asses, goats, oxen, or men acquiesce in the birth of worms inside them?’ |
‘Thưa đại vương, hãy nghe một lý do khác sâu xa hơn cho cùng một điều. Phải chăng các con liệu lạc đà, trâu, lừa, dê, bò, hay con người có chấp nhận cho những con giun sán sinh sôi nảy nở bên trong bụng của họ không?’ |
||||
‘Certainly not, Sir.’ |
"Thưa tôn giả, chắc chấn là không. |
||||
‘By the power of evil Karma, Sir.’ ‘Just so, great king, is it by the power of the relics and the wisdom of the Tathāgata, who has passed away and acquiesces in nothing, that an act done to him is of value and bears fruit.’ |
‘Thưa đại vương, do sức mạnh của nghiệp ác mà các con con giun sán ấy hiện hữu và vô số con cháu đạt được sự phát triển ở trong bụng của các chúng sanh ấy mặc dầu chúng không ưng thuận. Cũng vậy, thưa đại vương, chính nhờ sức mạnh của xá lợi và trí tuệ của Như Lai dù Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.” |
||||
‘Now hear another and further reason for the same thing. Do men consent, O king, that the ninety-eight diseases should be produced in their bodies?’ |
"Tâu đại vương, hãy nghe một lý do khác sâu xa hơn cho cùng một điều. liệu loài người có bằng lòng để chín mươi tám loại bệnh tật phát sinh trong cơ thể họ không? |
||||
‘Certainly not, Sir.’ |
"Chắc chắn là không thưa tôn giả" |
||||
‘But, great king, if evil deeds done in a former birth have to be suffered here and now, then both good and evil done here or done before has weight and bears fruit. Therefore is it that acts done to the Tathāgata, notwithstanding his having passed away and not consenting, are nevertheless of value and bear fruit.’ |
“Nhưng, thưa Đại Vương, nếu nghiệp bất thiện đã tạo trong tiền kiếp phải chịu quả báo ngay tại đây và bây giờ, thì cả thiện lẫn ác đã tạo ở đây hay đã tạo trước đây đều có giá trị và mang lại quả báo. Do đó, những hành động đã làm đối với Như Lai, mặc dù Ngài đã nhập diệt và không đồng ý, vẫn có giá trị và mang lại quả báo.” |
||||
‘Now hear another and further reason for the same thing. Did you ever hear, O king, of the ogre named Nandaka, who, having laid hands upon the Elder Sāriputta, was swallowed up by the earth?’ |
"Thưa đại vương, hãy nghe một lý do khác sâu xa hơn cho cùng một điều. Ngài có bao giờ nghe về con quỷ tên là Nandaka, kẻ đã công kích Trưởng lão Sāriputta và bị đất nuốt chửng không?’ |
||||
‘Yes, Sir, that is matter of common talk among men.’ |
“Vâng, thưa ngài, đó là chuyện được nói thường ngày giữa mọi người. |
||||
‘Though the world of gods and men, Sir, were to be destroyed, though the sun and moon were to fall upon the earth, though Sineru the king of mountains were to be dissolved, yet would not Sāriputta the Elder have consented to any pain being inflicted on a fellow creature. And why not? Because every condition of heart which could cause him to be angry or offended has been in him destroyed and rooted out. And as all cause thereof had thus been removed, Sir, therefore could not Sāriputta be angered even with those who sought to deprive him of his life.’ |
Thưa Ngài, dù cho thế giới chư thiên và loài người có bị hủy diệt, dù cho mặt trời và mặt trăng có rơi xuống đất, dù cho núi Sineru, vua của các ngọn núi có bị tiêu diệt, thì Trưởng lão Sāriputta cũng không chấp nhận bất kỳ đau khổ nào gây ra cho đồng loại. Và tại sao lại không? Bởi vì mọi trạng thái tâm có thể khiến Ngài tức giận hoặc bị xúc phạm đều đã bị tiêu diệt và nhổ tận gốc trong Ngài. Và vì mọi nguyên nhân gây ra chúng đã được loại bỏ, thưa Ngài, nên Sāriputta không thể tức giận ngay cả với những kẻ tìm cách tước đoạt mạng sống của Ngài. |
||||
‘But if Sāriputta, O king, did not consent to it, how was it that Nandaka was so swallowed up?’ |
Nhưng nếu Sāriputta, thưa đức vua, không chấp thuận thì tại sao Nandaka lại bị nuốt chửng như vậy? |
||||
‘By the power of his evil deeds.’ |
“Thưa ngài, do năng lực của nghiệp bất thiện.” |
||||
‘Now how many, O king, are those men who, in this life, have been swallowed up by the earth? Have you heard anything on that point?’ |
“Thưa đại vương, có bao nhiêu người trong đời này đã bị đất nuốt chửng? Ngài có nghe nói gì về điều đó không?” |
||||
‘Yes, Sir, I have heard how many there are.’ |
“Vâng, thưa ngài, trẫm đã nghe nói có nhiều người bị đất nuốt.” |
||||
‘And whom, O king, had they wronged?’ |
“Tâu đại vương, những người ấy đã xúc phạm đến ai?” |
||||
‘Then did the Blessed One or his disciples consent to their being so swallowed up?’ |
“Vậy thì Đức Thế Tôn hay các đệ tử của Ngài có bằng lòng để họ bị nuốt chửng như vậy không?” |
||||
‘Certainly not, Sir.’ |
"Chắc chắn là không thưa Ngài" |
||||
‘Well has this deep question been explained by you, venerable Nāgasena, and made clear. You have made the secret thing plain, you have loosed the knot, you have made in the jungle an open space, the adversaries are overthrown, the wrong opinion has been proved false, the sectaries have been covered with darkness when they met you, O best of all the leaders of schools!’ |
Thưa trưởng lão Nāgasena, câu hỏi thâm sâu đã khéo được Ngài giảng giải và làm sáng tỏ. Ngài đã làm sáng tỏ điều bí mật, ngài đã tháo gỡ nút thắt, ngài đã mở ra một khoảng trống trong rừng rậm, lời tuyên thuyết của ngoại đạo đã bị đánh bại, quan điểm sai lầm đã bị chứng minh là sai, các giáo phái đã bị bao phủ bởi bóng tối khi họ gặp ngài, ngài đã tiến đến vị thế cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng.” |
||||
Here ends the question as to not consenting to honours paid. |
Đến đây kết thúc câu hỏi về việc không đồng ý với những việc cúng dường. |
||||
5.1.2. The Omniscience Of the Buddha ‘Venerable Nāgasena, was the Buddha omniscient?’ |
5.1.2. Sự Toàn Tri của Đức PhậtThưa Tôn Giả Nāgasena,có phải đức Phật là đấng Toàn Tri? |
||||
‘Then, Sir, the Buddha cannot have been omniscient, if his all-embracing knowledge was reached through investigation.’ |
Vậy thì, thưa Ngài, Đức Phật không thể là đấng Toàn Tri, nếu kiến thức bao trùm của Ngài đạt được thông qua sự nghiên cứu. |
||||
‘[If so, great king, our Buddha’s knowledge must have been less in degree of fineness than that of the other Buddhas. And that is a conclusion hard to draw. But let me explain a little further.] Suppose, O king, you had a hundred cart-loads of rice in the husk, and each cart-load was of seven ammaṇas and a half. Would a man without consideration be able to tell you in a moment how many laks of grains there were in the whole ?’ |
‘[ Thưa Đại Vương, nếu vậy, trí tuệ của Đức Phật chúng ta chắc hẳn kém vi tế hơn trí tuệ của các Đức Phật khác. Và đó là một kết luận khó rút ra. Nhưng hãy để bần tăng giải thích thêm một chút.] Tâu Đại Vương, giả sử Ngài có một trăm xe thóc còn nguyên vỏ trấu, mỗi xe nặng bảy tạ rưỡi. Liệu một người không suy xét có thể nói cho Ngài biết trong khoảnh khắc tổng cộng có bao nhiêu lượng gạo không?’ |
||||
‘Now there are these, seven classes of minds. Those, great king, who are full of lust, ill-will, delusion, or wrong doing, who are untrained in the management of their body, or in conduct, or in thought, or in wisdom—their thinking powers are brought into play with difficulty, and act slowly. And why is it so? Because of the untrained condition of their minds. It is like the slow and heavy movements of a giant bambū—when it is being dragged along with its wide-spreading, extensive, overgrown, and interlaced vegetation, and with its branches intricately entangled one with the other. So slow and heavy are the movements of the minds of those men, O king. And why? Because of the intricate entanglements of wrong dispositions. This is the first class of minds.’ |
‘Bây giờ có bảy loại tâm vận hành. Thưa Đại vương, những người đầy tham dục, sân hận, si mê, hay nhiều phiền não, những người không được huấn luyện về việc thu thúc thân, hay về hành vi, hay về tư tưởng, hay về trí tuệ—sức mạnh tư duy của họ được vận dụng một cách khó khăn và hành động chậm chạp. Và tại sao vậy? Bởi vì trạng thái tâm trí của họ không được tu tập. Nó giống như những chuyển động chậm chạp và nặng nề của một cây tre khổng lồ—khi nó bị kéo lê cùng với thảm thực vật lan rộng, rộng lớn, rậm rạp và đan xen, và với các nhánh cây đan xen phức tạp vào nhau. Những chuyển động tâm trí của những người đó chậm chạp và nặng nề như vậy, thưa Đại vương. Và tại sao? Bởi vì sự vướng mắc phức tạp của các tâm tính sai lầm. Đây là loại tâm trí thứ nhất.’ |
||||
‘From it the second class is to be distinguished. Those, O king, who have been converted, for whom the gates of purgatory are closed, who have attained to right views, who have grasped the doctrine of the Master—their thinking powers, so far as the three lower stages are concerned, are brought quickly into play, and act with ease. But as regards the higher regions they are brought into play with difficulty, and act slowly. And why is this so? Because of their minds having been made clear as regards those three stages, and because of the failings (to be vanquished in the higher stages) still existing within them. It is like the movement of a giant bambū which has a clean trunk as far as the third knot, but above that has its branches intricately, entangled. So far as regards the smooth trunk it would travel easily when dragged along, but it would stick obstinately as regards its upper branches. This is the second class of minds.’ |
‘Từ đó, cần phân biệt hạng tâm thứ hai. Tâu Đức Vua, những người là bậc Nhập Lưu, những người mà cánh cổng cõi khổ đã đóng lại, những người đã đạt được Chánh Kiến, đã nhận thức nắm bắt được giáo lý của Đức Phật—tư duy của họ, xét về ba giai đoạn thấp hơn, được đưa vào hoạt động nhanh chóng và hành động dễ dàng. Nhưng đối với các cõi cao hơn, họ phải khó khăn mới có thể vận hành và hành động chậm chạp. Và tại sao lại như vậy? Bởi vì tâm trí của họ đã được làm sáng tỏ về ba giai đoạn đó, và bởi vì những khiếm khuyết (cần được khắc phục ở các giai đoạn cao hơn) vẫn còn tồn tại bên trong họ. Nó giống như chuyển động của một cây tre khổng lồ có thân cây sạch sẽ đến tận nút thắt thứ ba, nhưng ở trên đó, các nhánh của nó lại rối rắm, phức tạp. Đối với thân cây nhẵn nhụi, nó có thể di chuyển dễ dàng khi bị kéo đi, nhưng nó sẽ bám chặt vào các nhánh trên của nó. Đây là hạng tư duy thứ hai.’ |
||||
‘From these the third class is to be distinguished. Those, O king, who are Sakadāgāmins, in whom lust, ill-will, and delusion are reduced to a minimum—their thinking powers, so far as the five lower stages are concerned, are brought quickly into play, and act with ease. But as regards the higher regions they are brought into play with difficulty, and act slowly. And why is this so? Because of their minds having been made clear as regards those five stages, and because of the failings (to be vanquished in the higher stages) still existing within them. It is like the movement of a giant bambū which has a clean trunk as far as the fifth knot, but above that has its branches intricately entangled. So far as regards the smooth trunk it would travel easily when dragged along, but it would be moved with difficulty as far as its upper branches are concerned. This is the third class of minds.’ |
Trong số những người này cần phân biệt hạng tâm thứ ba. Tâu Đại Vương, những người là bậc Nhất Lai, trong họ có dục vọng, sân hận và si mê đã được giảm thiểu đến mức tối thiểu—năng lực suy nghĩ của họ, liên quan đến năm giai đoạn thấp hơn, được đưa vào hoạt động nhanh chóng và hành động một cách dễ dàng. Nhưng đối với các cõi cao hơn, họ phải khó khăn mới có thể đưa vào hoạt động và hành động chậm chạp. Và tại sao lại như vậy? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở năm trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở năm lóng, còn bị rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng chỉ đến năm lóng, từ đó trở lên rối rắm phức tạp. Đối với thân cây nhẵn nhụi, nó có thể di chuyển dễ dàng khi bị kéo đi, nhưng nó sẽ bị di chuyển khó khăn đối với các nhánh cây cao hơn. Đây là hạng tâm trí thứ ba. |
||||
‘From these the fourth class is to be distinguished. Those, O king, who are Anāgāmins, who have completely got rid of the five lower fetters—their thinking powers, so far as the ten stages are concerned, are brought quickly into play, and act with ease. But as regards the higher regions they are brought into play with difficulty, and act slowly. And why is this so? Because of their minds having been made clear as regards those ten stages, and because of the failings (to be vanquished in the higher stages) still existing within them. It is like the movement of a giant bambū which has a smooth trunk as far as the tenth knot, but above that has its branches intricately entangled. This is the fourth class of minds.’ |
‘Trong số này, cần phân biệt hạng thứ tư. Tâu Đại Vương, những vị Bất Lai (Anāgāmin), đã hoàn toàn đoạn trừ năm hạ phần kiết sử – tức là tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mười trường hợp. Nhưng đối với các cõi cao hơn, họ lại khó khăn và hành động chậm chạp. Tại sao vậy? Bởi vì tâm trí của họ đã được sáng tỏ về mười tầng bậc đó, và bởi vì những khiếm khuyết (cần được khắc phục ở các tầng bậc cao hơn) vẫn còn tồn tại bên trong họ. Điều này giống như sự chuyển động của một cây tre khổng lồ, có thân nhẵn nhụi đến tận mấu thứ mười, nhưng ở trên đó, các nhánh cây lại rối rắm phức tạp. Đây là hạng tâm trí thứ tư.’ |
||||
‘From these the fifth class is to be distinguished. Those, O king, who are Arahats, in whom the four Great Evils have ceased, whose stains have been washed away, whose predispositions to evil have been put aside, who have lived the life, and accomplished the task, and laid aside every burden, and reached up to that which is good, for whom the Fetter of the craving after any kind of future life has been broken to pieces, who have reached the higher insight, who are purified as regards all those conditions of heart in which a hearer can be pure—their thinking powers, as regards all that a disciple can be or do, are brought quickly into play, and act with ease. But as to those things which are within the reach of the Pacceka-Buddhas (of those who are Buddhas, but for themselves alone) they are brought into play with difficulty, and act slowly. And why is this so? Because of their having been made pure as regards all within the province of a hearer, but not as regards that within the reach of those who are Buddhas (though for themselves alone). It is like the movement of a giant bambū which has been pruned of the branches arising out of all its knots—and which, therefore, when dragged along moves quickly and with ease, because of its smoothness all along, and because of its being unencumbered with the jungly growth of vegetation. This is the fifth class of minds.’ |
‘Trong số những người này, cần phân biệt hạng tâm thứ năm. Tâu Đức Vua, những vị A-la-hán, những người đã chấm dứt bốn Đại Ác, những người đã rửa sạch các vết nhơ, những người đã gạt bỏ các khuynh hướng làm điều ác, những người đã sống cuộc đời, đã hoàn thành nhiệm vụ, đã buông bỏ mọi gánh nặng, và đã đạt đến điều thiện, đối với họ, xiềng xích tham ái đối với bất kỳ loại kiếp sống tương lai nào đã bị phá vỡ thành từng mảnh, những người đã đạt đến tuệ giác cao hơn, những người đã được thanh lọc về mọi trạng thái của tâm mà người nghe có thể thanh tịnh - sức mạnh suy nghĩ của họ, về tất cả những gì một đệ tử có thể là hoặc làm, được đưa vào hoạt động nhanh chóng và hành động một cách dễ dàng. Nhưng đối với những điều nằm trong tầm với của các vị Độc Giác Phật (của những vị là Phật, nhưng chỉ đối với chính họ) thì họ khó khăn khi đưa vào hoạt động và hành động chậm chạp. Và tại sao lại như vậy? Bởi vì họ đã được thanh lọc về mọi thứ trong phạm vi của một người nghe, nhưng không phải về những gì nằm trong tầm với của những vị Phật (mặc dù chỉ đối với chính họ). Giống như chuyển động của một cây tre khổng lồ đã được cắt tỉa hết các cành mọc ra từ tất cả các mắt của nó—và do đó, khi được kéo đi, nó di chuyển nhanh chóng và dễ dàng, bởi vì nó trơn tru trên toàn bộ chiều dài, và bởi vì nó không bị cản trở bởi sự phát triển rậm rạp của nhánh cây. Đây là loại tâm thứ năm. |
||||
‘From these the sixth class is to be distinguished. Those, O king, who are Pacceka-Buddhas, dependent on themselves alone, wanting no teacher, dwellers alone like the solitary horn of the rhinoceros, who so far as their own higher life is concerned, have pure hearts free from stain—their thinking powers, so far as their own province is concerned, are brought quickly into play, and act with ease. But as regards all that is specially within the province of a perfect Buddha (one who is not only Buddha, that is enlightened, himself, but can lead others to the light) they are brought with difficulty into play, and move slowly. And why is this so? Because of their purity as regards all within their own province, and because of the immensity of the province of the omniscient Buddhas. It is like a man, O king, who would fearlessly cross, and at will, by day or night, a shallow brook on his own property. But when he comes in sight of the mighty ocean, deep and wide and ever-moving, and sees no further shore to it, then would he stand hesitating and afraid, and make no effort even to get over it. And why? Because of his familiarity with his own, and because of the immensity of the sea. This is the sixth class of minds.’ |
Trong số này, cần phân biệt hạng tâm thứ sáu. Tâu bệ hạ, những vị là Phật Độc Giác, chỉ nương tựa vào chính mình, không thầy chỉ dậy, là những người sống đơn độc như con tê giác, những vị mà xét về đời sống cao hơn của chính mình, có trái tim trong sạch không tì vết—sức mạnh tư duy của họ, xét về phạm vi của chính họ, được đưa vào hoạt động nhanh chóng và hành động dễ dàng. Nhưng đối với tất cả những gì đặc biệt nằm trong phạm vi của một vị Phật Toàn Giác (một người không chỉ là Phật, tức là người giác ngộ, mà còn có thể dẫn dắt những người khác đến với ánh sáng) thì họ khó mà đưa vào hoạt động và di chuyển chậm chạp. Và tại sao lại như vậy? Bởi vì sự thanh tịnh của họ đối với tất cả những gì nằm trong phạm vi của chính họ, và bởi vì sự bao la của phạm vi của các vị Phật Toàn Giác. Tâu bệ hạ, giống như một người muốn vượt qua một con suối cạn trên đất của mình ngày hay đêm tùy ý. Nhưng khi nhìn thấy đại dương bao la, sâu thẳm, mênh mông, luôn chuyển động, mà không thấy bờ bên kia, thì anh ta sẽ đứng đó, do dự, sợ hãi, và thậm chí không buồn cố gắng vượt qua. Tại sao? Bởi vì Ngài đã quá quen thuộc với chính mình, và bởi vì sự bao la của biển cả. Đây chính là loại trí tuệ thứ sáu. |
||||
‘From these the seventh class is to be distinguished. Those, O king, who are complete Buddhas, having all knowledge, bearing about in themselves the tenfold power (of the ten kinds of insight), confident in the four modes of just self-confidence, endowed with the eighteen characteristics of a Buddha, whose mastery knows no limit, from whose grasp nothing is hid—their thinking powers are on every point brought quickly into play, and act with ease. Suppose, O king, a dart well burnished, free from rust, perfectly smooth, with a fine edge, straight, without a crook or a flaw in it, were to be set on a powerful crossbow. Would there be any clumsiness in its action, any retarding in its movement, if it were discharged by a powerful man against a piece of fine linen, or cotton stuff, or delicate woolwork?’ |
Trong số những vị này, cần phân biệt hạng tâm thứ bảy. Tâu bệ hạ, những vị là Phật toàn giác, sở hữu tất cả trí tuệ, mang trong mình mười lực (của mười loại tuệ giác), tự tin vào bốn cách tự tin đúng đắn, được phú cho mười tám đặc điểm của một vị Phật, người mà sự tinh thông không có giới hạn, không có gì có thể che giấu khỏi tầm tay của người - sức mạnh suy nghĩ của họ được đưa vào hoạt động nhanh chóng trên mọi điểm và hành động một cách dễ dàng. Tâu bệ hạ, giả sử một mũi tên được đánh bóng kỹ lưỡng, không gỉ sét, hoàn toàn nhẵn, với một cạnh sắc, thẳng, không có đường cong hoặc khuyết điểm trên đó, được đặt trên một cây nỏ mạnh. Liệu có bất kỳ sự vụng về nào trong hành động, bất kỳ sự chậm trễ nào trong chuyển động, nếu nó được một người đàn ông mạnh mẽ bắn vào một mảnh vải lanh mịn, hoặc vải bông, hoặc hàng len mỏng manh không? |
||||
‘Certainly not, Sir. And why? Because the stuff is so fine, and the dart so highly tempered, and the discharge so powerful.’ |
“Chắc chắn là không, thưa ngài. Và tại sao? Bởi vì chất liệu rất tốt, mũi tên được tôi luyện rất kỹ, và lực bắn rất mạnh.” |
||||
‘And just in the same way, great king, are the thinking powers of the Buddhas I have described brought quickly into play, and act with ease. And why? Because of their being purified in every respect. This is the seventh class of minds.’ |
“Tâu Đại Vương, cũng vậy, bậc Phật Chánh Đẳng Chánh Giác, đấng Toàn Tri bậc nắm giữ mười Lực, tâm không bị che lấp, tâm của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mọi nơi. Tại sao? Bởi vì họ được thanh lọc trong mọi phương diện. Đây là loại tâm thứ bảy.” |
||||
‘Now of these, O king, the last—the thinking powers of the omniscient Buddhas—altogether outclasses the other six, and is clear and active in its high quality that is beyond our ken. It is because the mind of the Blessed One is so clear and active that the Blessed One, great king, displays the double miracle. From that we may get to know, O king, how clear and active His mental powers are. And for those wonders there is no further reason that can be alleged. (Yet) those wonders, O king, [caused by means of the mind (alone) of the omniscient Buddhas ] cannot be counted, or calculated, or divided, or separated, (For) the knowledge of the Blessed One, O king, is dependent upon reflection, and it is on reflection that he knows whatever he wishes to know. (But) it is as when a man passes something he already has in one hand to the other, or utters a sound when his mouth is open, or swallows some food that he has already in his mouth, or opens his eyes when they are shut, or shuts them when open, or stretches forth his arm when it is bent in, or bends it in when stretched out—more rapid than that, great king, and more easy in its action, is the all-embracing knowledge of the Blessed One, more rapid than that his reflection. And although it is by reflection that they know whatever they want to know, yet even when they are not reflecting the Blessed Buddhas are not, even then, anything other than omniscient.’ |
‘Bây giờ, thưa đại vương, trong số này, năng lực cuối cùng - năng lực suy nghĩ của chư Phật toàn trí - hoàn toàn vượt trội hơn sáu năng lực kia, và rõ ràng và năng động trong phẩm chất cao quý của nó vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta. Chính vì tâm của Đức Thế Tôn rất rõ ràng và năng động mà Ngài đã hiện bày song thông. Từ đó, chúng ta có thể biết năng lực tinh thần của Ngài rõ ràng và năng động như thế nào. Và đối với những điều kỳ diệu đó không có lý do nào khác có thể được đưa ra. Những điều kỳ diệu đó, thưa đại vương, [do tâm trí (duy nhất) của chư Phật toàn trí] không thể được đếm, hoặc tính toán, hoặc chia tách, hoặc tách rời, Vì kiến thức của Đức Thế Tôn, phụ thuộc vào sự suy ngẫm, và chính nhờ sự suy ngẫm mà Ngài biết bất cứ điều gì Ngài muốn biết. Giống như khi một người đưa vật mình đã cầm trong tay này sang tay kia, hoặc thốt ra một âm thanh khi miệng đang mở, hoặc nuốt một ít thức ăn đã ngậm trong miệng, hoặc mở mắt khi nhắm, hoặc nhắm mắt khi đang mở, hoặc duỗi cánh tay ra khi đang co vào, hoặc co vào khi đang duỗi ra—thì thưa đại vương, tri thức toàn diện của Đức Thế Tôn còn nhanh hơn thế nữa, và dễ dàng hơn thế nữa, nhanh hơn sự suy tư của Ngài. Và mặc dù chính nhờ sự suy tư mà các Ngài biết bất cứ điều gì các Ngài muốn biết, nhưng ngay cả khi các Ngài không suy tư thì các Đức Phật Thế Tôn cũng không phải là gì khác ngoài Đấng toàn trí. |
||||
‘But, venerable Nāgasena, reflection is carried on for the purpose of seeking (that which is not clear when the reflection begins). Come now. Convince me in this matter by some reason.’ |
“Nhưng, thưa Ton Giả Nāgasena, sự suy ngẫm được thực hiện với mục đích tìm kiếm (điều chưa rõ ràng khi sự suy ngẫm bắt đầu). Hãy đến đây. Hãy thuyết phục trẫm bằng một lý do nào đó trong vấn đề này.” |
||||
‘Suppose, O king, there were a rich man, great in wealth and property—one who had stores of gold and silver and valuables, and stores of all kinds of wheat, one who had rice, and paddy, and barley, and dry grain, and oilseed, and beans, and peas, and every other edible seed, who had ghee, and oil, and butter, and milk, and curds, and honey, and sugar, and molasses, all put away in store-rooms in jars, and pots, and pans, and every sort of vessel. Now if a traveller were to arrive, one worthy of hospitality, and expecting to be entertained; and all the prepared food in the house had been finished, and they were to get out of the jar some rice ready for cooking, and prepare a meal for him. Would that wealthy man merely by reason of the deficiency in eatable stuff at that unusual time be rightly called poor or needy?’ |
‘Tâu bệ hạ, giả sử có một người giàu có nhiều tài sản - người có kho vàng bạc và các vật quý giá, và kho lúa mì đủ loại, có gạo, lúa mạch, lúa mì khô, hạt có dầu, đậu, đậu Hà Lan, và mọi loại hạt ăn được khác, có bơ, dầu, bơ, sữa, sữa đông, mật ong, đường và mật mía, tất cả đều được cất giữ trong kho trong đủ loại đồ đựng. Bây giờ, nếu một vị khách đến, một người đáng được tiếp đãi và mong đợi được tiếp đãi; và tất cả thức ăn đã chuẩn bị trong nhà đã hết, và họ phải lấy ra khỏi lọ một ít gạo đã nấu chín và chuẩn bị một bữa ăn cho người khách đó. Như vậy phải chăng do sự việc thiếu hụt thức ăn trong chốc lát mà người ấy trở thành người không có tài sản và nghèo khó?” |
||||
‘Certainly not, Sir. Even in the palace of a mighty king of kings there might be no food ready out of time, how much less in the house of an ordinary man.’ |
“Chắc chắn là không, thưa ngài. Ngay cả trong cung điện của một vị vua hùng mạnh cũng không thể có đồ ăn sẵn sàng đúng giờ, huống hồ là trong nhà của một người bình thường.” |
||||
‘Just so, great king, with the all-embracing knowledge of a Tathāgata when reflection only is wanting; but which on reflection grasps whatever he wants. Now suppose, O king, there were a tree in full fruit, with its branches bending this way and that by the weight of the burden of the bunches of its fruit, but no single fruit had fallen from it. Could that tree rightly, under the circumstances of the case, be called barren, merely because of the want of a fallen fruit?’ |
“Cũng vậy, thưa Đại Vương, với trí tuệ toàn tri của Như Lai, khi chỉ thiếu suy nghĩ, nhưng khi suy nghĩ, Ngài nắm bắt được bất cứ điều gì Ngài muốn. Bây giờ, thưa Đại Vương, giả sử có một cây trĩu quả, cành cây nghiêng ngả vì sức nặng của những chùm quả, nhưng không có một quả nào rơi xuống. Trong trường hợp này, liệu cây đó có thể được gọi là cằn cỗi chỉ vì thiếu một quả rụng không?” |
||||
‘No, Sir. For though the falling of the fruit is a condition precedent to its enjoyment, yet when it has fallen one can take as much as one likes.’ |
“Không, thưa ngài. Mặc dù việc trái cây rụng là điều kiện tiên quyết để được hưởng, nhưng khi trái cây rụng rồi, người ta có thể lấy bao nhiêu tùy thích.” |
||||
‘Just so, great king, though reflection is a necessary condition of the knowledge of the Tathāgata, yet on reflection it perceives whatever he wants to know.’ |
‘Cũng vậy, thưa đại vương, mặc dù sự quán chiếu là điều kiện cần thiết để có được sự hiểu biết của Như Lai, nhưng khi quán chiếu, Như Lai sẽ nhận thức được bất cứ điều gì Ngài muốn biết.’ |
||||
‘Does that happen always, Nāgasena, at the moment of reflection?’ |
“Thưa Tôn Giả Nāgasena, điều đó có luôn xảy ra vào lúc quán chiếu không?” |
||||
‘Yes, O king. just as when the mighty king of kings (the cakkavatti) calling to mind his glorious wheel of victory wishes it to appear, and no sooner is it thought of than it appears—so does the knowledge of the Tathāgata follow continually on reflection.’ |
‘Vâng, thưa Đại Vương. Giống như khi Đức Chuyển Luân Vương (cakkavatti) nhớ đến bánh xe báu của mình muốn nó xuất hiện, và ngay khi nghĩ đến nó, nó đã xuất hiện - cũng vậy, kiến thức của Như Lai liên tục theo sau khi quán chiếu.’ |
||||
‘Strong is the reason you give, Nāgasena, for the omniscience of the Buddha. I am convinced that that is so.’ |
“Thưa Ngài Nāgasena, lý do Ngài đưa ra về sự toàn tri của Đức Phật thật là mạnh mẽ. Trẫm tin chắc điều đó là đúng.” |
||||
Here ends the question as to the omniscience of the Buddha being dependent on reflection. |
Đến đây kết thúc câu hỏi về sự toàn trí của Đức Phật phụ thuộc vào sự quán chiếu. |
||||
5.1.3. Why Devadatta Was Admitted To the Order‘Venerable Nāgasena, who was it that admitted Devadatta to the Order?’ |
5.1.3.Tại sao Devadatta được nhận vào Tăng đoàn“Thưa Tôn giả Nāgasena, ai là người đã chấp nhận Devadatta vào Tăng đoàn?” |
||||
‘Those six young nobles, O king, Bhaddiya and Anuruddha and Ānanda and Bhagu and Kimbila and Devadatta, together with Upāli the barber as a seventh—they all, when the Master had attained to Buddhahood, left the Sākya home out of the delight they felt in him, and following the Blessed One renounced the world. So the Blessed One admitted them all to the Order.’ |
“Tâu đại vương, sáu vương tử dòng Sát-đế-lỵ này là Bhaddiya, Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimbila, Devadatta, và người thợ cạo Upāli là thứ bảy. Khi bậc Đạo Sư đã đắc thành Chánh Đẳng Giác, tất cả họ đều từ bỏ gia đình Thích Ca vì lòng hoan hỷ nơi Ngài, và theo Đức Thế Tôn từ bỏ thế gian. Vì vậy, Đức Thế Tôn đã chấp nhận tất cả họ vào Tăng đoàn.” |
||||
‘But was it not Devadatta who, after he had entered the Order, raised up a schism within it?’ |
‘Thưa Tôn Giả, chẳng phải Devadatta là người đã gây ra sự chia rẽ trong Tăng đoàn sau khi gia nhập ?’ |
||||
‘Yes. No layman can create a schism, nor a sister of the Order, nor one under preparatory instruction, nor a novice of either sex. It must be a Bhikkhu, under no disability, who is in full communion, and a co-resident.’ |
“Thưa đại vương, đúng vậy, không một cư sĩ nào có thể tạo ra sự ly giáo, kể cả một nữ tu sĩ, một người đang trong thời gian tu tập, hay một sa di bất kỳ giới tính nào. Người đó phải là một tỳ kheo, không bị khuyết tật, đang thọ giới đầy đủ, và là một đồng trú.” |
||||
‘And what Karma does a schismatical person gain?’ |
“Thưa ngài, người phạm tội chia rẽ hội chúng rơi vào nghiệp gì?” |
||||
‘A Karma that continues to act for a Kalpa (a very long period of time).’ |
“Tâu đại vương, phạm vào nghiệp liên quan đến việc chịu đựng một kiếp.” |
||||
‘What then, Nāgasena! Was the Buddha aware that Devadatta after being admitted to the Order would raise up a schism, and having done so would suffer torment in purgatory for a Kalpa?’ |
Vậy thì, thưa Tôn Giả Nāgasena! Đức Phật có biết rằng Devadatta sau khi được nhận vào Tăng đoàn sẽ gây ra sự ly giáo, và sau khi làm như vậy sẽ phải chịu đau khổ trong địa ngục suốt một Kiếp không? |
||||
‘Yes, the Tathāgata, knew that.’ |
"Thưa đại vương, Đức Phật đã biết điều đó." |
||||
‘The Blessed One, O king, was both full of mercy and had all knowledge. It was when the Blessed One in his mercy and wisdom considered the life history of Devadatta that he perceived how, having heaped up Karma on Karma, he would pass for an endless series of Kalpas from torment to torment, and from perdition to perdition. And the Blessed One knew also that the infinite Karma of that man would, because he had entered the Order, become finite, and the sorrow caused by the previous Karma would also therefore become limited. But that if that foolish person were not to enter the Order then he would continue to heap up Karma which would endure for a Kalpa. And it was because he knew that that, in his mercy, he admitted him to the Order.’ |
"Tâu đại vương, Đức Thế Tôn là bậc Đại Bi vừa là bậc trí tuệ. Chính khi Đức Thế Tôn với lòng thương xót và trí tuệ của mình xem xét cảnh giới tái sinh của Devadatta, Ngài nhận ra rằng, sau khi đã tích lũy Nghiệp, ông ta sẽ trải qua một chuỗi vô tận các Kiếp từ đau khổ này đến đau khổ khác, và từ sự diệt vong này đến sự diệt vong khác. Và Đức Thế Tôn cũng biết rằng Nghiệp vô hạn của Devadatta, vì ông ta đã gia nhập Tăng đoàn, sẽ trở nên hữu hạn, và nỗi buồn do Nghiệp trước gây ra cũng do đó sẽ trở nên hạn chế. Nhưng nếu người ngu ngốc đó không gia nhập Tăng đoàn thì ông ta sẽ tiếp tục tích lũy Nghiệp kéo dài trong một Kiếp. Và chính vì Ngài biết rằng, với lòng thương xót của mình, Ngài đã chấp nhận ông ta vào Tăng đoàn. |
||||
‘Then, Nāgasena, the Buddha first wounds a man and then pours oil on the wound, first throws a man down a precipice and then reaches out to him an assisting hand, first kills him and then seeks to give him life, first gives pain and then a subsequent ease to the pain he has given.’ |
‘Vậy thì, thưa Ngài Nāgasena, Đức Phật trước tiên làm một người bị thương rồi thoa dầu vào vết thương, trước tiên ném một người xuống vực rồi đưa tay ra giúp đỡ, trước tiên giết người đó rồi tìm cách cho người đó sống lại, trước tiên làm cho người đó đau đớn rồi sau đó làm dịu đi nỗi đau mà người đó đã gây ra. |
||||
‘The Tathāgata, O king, wounds people but to their good, he casts people down but to their profit, he kills people but to their advantage. just as mothers and fathers, O king, hurt their children and even knock them down, thinking the while of their good; so by whatsoever method an increase in the virtue of living things can be brought about, by that method does he contribute to their good. If Devadatta, O king, had not entered the Order, then as a layman he would have laid up much Karma leading to states of woe, and so passing for hundreds of thousands of Kalpas from torment to misery, and from one state of perdition to another, he would have suffered constant pain. It was knowing that, that in his mercy, the Blessed One admitted Devadatta to the Order. It was at the thought that by renouncing the world according to His doctrine Devadatta’s sorrow would become finite that, in his mercy, he adopted that means of making his heavy sorrow light. |
‘Tâu đại vương, Đức Như Lai làm tổn thương người nhưng lại có lợi cho họ, dẫu có làm rơi xuống cũng vì lợi ích cho chúng sanh, dẫu có làm cho chết cũng vì lợi ích cho chúng sanh. Cũng như cha mẹ, thưa đại vương, làm tổn thương con cái mình và thậm chí đánh chúng, nghĩ rằng điều đó có lợi cho chúng; cũng vậy, bằng bất kỳ phương pháp nào có thể làm tăng trưởng đức hạnh của chúng sinh, thì bằng phương pháp đó, Ngài đóng góp vào lợi ích của chúng sinh. Tâu đại vương, nếu Devadatta không gia nhập Tăng đoàn, thì với tư cách là một cư sĩ, ông ta sẽ tích lũy nhiều Nghiệp đưa đến những trạng thái đau khổ, và như vậy trong hàng trăm ngàn Kiếp từ đau khổ đến đau khổ, và từ trạng thái diệt vong này đến trạng thái diệt vong khác, ông ta sẽ phải chịu đau khổ liên tục. Chính vì biết rằng trong lòng thương xót của mình, Đức Thế Tôn trong khi biết được điều ấy, vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia Ngài nghĩ rằng: ‘Đối với người đã được xuất gia trong Giáo Pháp của Ta thì khổ đau sẽ trở thành có giới hạn.’ Vì lòng bi mẫn mà Ngài đã làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng. |
||||
‘As a man of influence, O king, by the power of his wealth or reputation or prosperity or birth, when a grievous penalty has been imposed by, the king on some friend or relative of his, would get it made light by the ability arising from the trust reposed in him; just so did the Blessed One, by admitting him to the Order, and by the efficacy of the influence of righteousness and meditation and wisdom and emancipation of heart, make light the heavy sorrow of Devadatta, who would have had to suffer many hundreds of thousands of Kalpas. As a clever physician and surgeon, O king, would make a grievous sickness light by the aid of a powerful medicinal drug, just so did the Blessed One, in his knowledge of the right means to an end, admit Devadatta to the Order and thus make his grievous pain light by the aid of the medicine of the Dhamma, strong by the power of mercy. Was then, O king, The Blessed One guilty of any wrong in that he turned Devadatta from being a man of much sorrow into being a man of less sorrow?’ |
Tâu Đại Vương, như một người có năng lực, nhờ sức mạnh của sự giàu có, danh tiếng, sự thịnh vượng hay dòng dõi, khi một hình phạt nặng nề đã được nhà vua áp đặt cho một người bạn hay người thân của mình, sẽ làm giảm nhẹ hình phạt đó bằng khả năng phát sinh từ niềm tin đặt vào người đó; cũng vậy, Đức Thế Tôn, bằng cách chấp nhận ông ta vào Tăng đoàn, và bằng hiệu lực của ảnh hưởng của chánh kiến, thiền định, trí tuệ và tâm giải thoát, làm giảm nhẹ nỗi đau khổ nặng nề của Devadatta, người đã phải chịu đựng hàng trăm ngàn kiếp. Tâu Đại Vương, như một bác sĩ phẫu thuật tài giỏi có thể làm giảm nhẹ một căn bệnh nặng nề bằng sự trợ giúp của một loại thuốc mạnh, cũng vậy, Đức Thế Tôn, với sự hiểu biết của mình về phương tiện tu tập để đạt được mục đích, đã chấp nhận Devadatta vào Tăng đoàn và như vậy làm giảm nhẹ nỗi đau khổ nặng nề của ông ta bằng sự trợ giúp của thuốc Giáo pháp, được củng cố bởi sức mạnh của lòng từ bi. Vậy, thưa Đại Vương, Đức Thế Tôn có phạm tội gì khi Ngài biến Devadatta từ một người có nhiều đau khổ thành một người ít đau khổ không?’ |
||||
‘No indeed, Sir. He committed no wrong, not even in the smallest degree.’ |
“Không hề, thưa ngài. Đức Phật không hề phạm sai lầm nào, dù là nhỏ nhất.” |
||||
‘Then accept this, great king, to the full as the reason for which the Blessed One admitted Devadatta to the Order.’ |
“Vậy thì, thưa đại vương, xin hãy chấp nhận lý do này, vì sao Đức Thế Tôn đã chấp nhận Devadatta vào Tăng đoàn.” |
||||
‘Hear another and further reason, O king, for the Blessed One’s having admitted Devadatta. Suppose men were to seize and hurry before the king some wicked robber, saying: “This is the wicked robber, your Majesty. Inflict upon him such punishment as you think fit!” And thereupon the king were to say to them: “Take this robber then, my men, outside the town, and there on the place of execution cut off his head.” And they in obedience to his orders were to take that man accordingly towards the place of execution. And some man who was high in office near the king, and of great reputation and wealth and property, whose word was held of weight, and whose influence was great, should see him. And he were to have pity on him, and were to say to those men: “Stay, good fellows. What good will cutting off his head do to you? Save him alive, and cut off only a hand or a foot. I will speak on his behalf to the king.” And they at the word of that influential person were to do so. Now would the officer who had acted so towards him have been a benefactor to that robber?’ |
Tâu Đại Vương, hãy nghe một lý do khác nữa về việc Đức Thế Tôn cho phép Devadatta vào tăng đoàn. Giả sử có người bắt giữ và dẫn đến trước mặt vua một tên cướp hung ác, nói rằng: "Tâu Đại Vương, đây là tên cướp hung ác. Xin hãy trừng phạt hắn tùy ý!". Sau đó, nhà vua ra lệnh cho họ: "Vậy thì, hỡi quân lính của ta, hãy mang tên cướp này ra khỏi thành phố, và tại nơi hành quyết hãy chặt đầu hắn." Theo lệnh của nhà vua, họ sẽ dẫn tên cướp đó đến nơi hành quyết. Rồi một người có chức vụ cao gần nhà vua, có danh tiếng, giàu có, quyền lực, có tiếng nói được coi trọng và có ảnh hưởng lớn sẽ đến gặp hắn. Nhà vua sẽ thương hại hắn và nói với những người đó: "Hãy dừng lại, hỡi những người tốt. Chặt đầu hắn có ích gì cho các ngươi? Hãy để hắn sống, và chỉ chặt một tay hay một chân. Ta sẽ nói thay cho hắn với nhà vua." Và theo lời của người có ảnh hưởng đó, họ sẽ làm như vậy. Vậy thì viên sĩ quan đã hành động như vậy với anh ta có phải là ân nhân của tên cướp đó không? |
||||
‘He would have saved his life, Sir. And having done that, what would he not have done?’ |
“Thưa ngài, người đàn ông ấy là người đã cứu mạng sống của kẻ trộm. Khi mạng sống đã được cứu, thì có điều gì gọi là đã không được làm cho kẻ ấy?” |
||||
‘But would he have done no wrong on account of the pain the man suffered when his hand or foot was cut off?’ |
‘Nhưng về cảm thọ trong việc khi chứng kiến nỗi đau mà người đàn ông phải chịu khi tay hoặc chân của anh ta bị cắt đứt mà không tạo ra điều vô phước ?’ |
||||
‘The pain the thief suffered, Sir, was his own fault. But the man who saved his life did him no harm.’ |
“Thưa ngài, nỗi đau mà tên trộm phải chịu là do lỗi của hắn. Nhưng người cứu mạng hắn lại không làm hại hắn, nên không tạo ra điều vô phước nào.” |
||||
‘Just so, great king, was it in his mercy that the Blessed One admitted Devadatta, with the knowledge that by that his sorrow would be mitigated.’ |
‘Tâu đại vương, cũng như vậy, Đức Thế Tôn vì lòng từ bi của Ngài mà đã chấp nhận Devadatta, với sự hiểu biết rằng bằng cách đó, nỗi đau khổ của Devadatta sẽ được giảm bớt.’ |
||||
‘And Devadatta’s sorrow, O king, was mitigated. For Devadatta at the moment of his death took refuge in Him for the rest of his existences when he said: |
“Tâu Đại Vương, nỗi khổ của Devadatta đã được vơi bớt. Bởi vì Devadatta, vào lúc lâm chung, đã nương tựa vào Đức Phật suốt cuộc đời còn lại khi Đức Phật nói: |
||||
The god of gods, the guide of gods and men, Who see’th all, and bears the hundred marks Of goodness—’Tis in him I refuge take Through all the lives that I may have to live.” |
Vị Trời vượt trội các vị Trời, Đấng Điều Ngự Trượng Phu, Đấng nhìn thấy toàn diện, và có đặc điểm của trăm phước báu —Chính trong Ngài, con nương náu Qua tất cả những kiếp sống mà con có thể sống.” |
||||
‘If you divide this Kalpa, O king, into six parts, it was at the end of the first part that Devadatta created schism in the Order. After he has suffered the other five in purgatory he will be released, and will become a Pacceka-Buddha under the name of Aṭṭhissara.’ |
“Tâu Đại Vương, một Kiếp gồm sáu giai đoạn, thì vào cuối phần đầu, thì Devadattađã gây chia rẽ trong Tăng đoàn. Sau khi chịu khổ trong năm giai đoạn còn lại, ông ta sẽ được giải thoát và sẽ trở thành một vị Phật Độc Giác với danh hiệu là Aṭṭhissara.” |
||||
‘Great is the gift bestowed, Nāgasena, by the Blessed One on Devadatta. In that the Tathāgata has caused him to attain to the state of a Pacceka-Buddha, what has he not done for him?’ |
“Thưa ngài Nāgasena, Đức Thế Tôn đã ban phước cho Devadatta thật lớn lao. Như Lai độ cho Devadatta đạt đến trạng thái Phật Độc Giác, còn điều gì mà Đức Như Lai Ngài không làm cho Devadatta?” |
||||
‘But inasmuch as Devadatta, O king, having made a schism in the Order, suffers pain in purgatory, has not therefore the Blessed One done him wrong?’ |
“Tâu đại vương, Devadatta đã gây chia rẽ trong Giáo hội và phải chịu đau khổ trong luyện ngục, vậy thì Đức Thế Tôn chẳng phải đã đối xử bất công với ông ta sao?” |
||||
‘No, Sir. That is Devadatta’s own fault; and the Blessed One who mitigated his suffering has done him no harm.’ |
Không, thưa Trưởng Lão. Devadatta bị nung nấu ở địa ngục một kiếp do việc đã làm bởi bản thân; Đức Thế Tôn, Đấng đã làm giảm nhẹ nỗi đau khổ của ông, không hề làm hại ông. |
||||
‘Then accept this, O king, to the full as the reason for the Blessed One admitting Devadatta to the Order. |
“Vậy thì, tâu đại vương, xin hãy chấp nhận lý do này để Đức Thế Tôn chấp nhận Devadatta vào Tăng đoàn. |
||||
‘Hear another and further reason, O king, for his having done so. Suppose in treating a wound full of matter and blood, in whose grievous hollow the weapon which caused it remained, which stank of putrid flesh, and was made worse by the pain that varied with constantly changing symptoms, by variations in temperature, and by the union of the three humours—windy, bilious, and phlegmatic—an able physician and surgeon were to anoint it with a rough, sharp, bitter, stinging ointment, to the end that the inflammation should be allayed. And when the inflammation had gone down, and the wound had become sweet, suppose he were then to cut into it with a lancet, and burn it with caustic. And when he had cauterised it, suppose he were to prescribe an alkaline wash, and anoint it with some drug to the end that the wound might heal up, and the sick man recover his health—now tell me, O king, would it be out of cruelty that the surgeon thus smeared with ointment, and cut with the lancet, and cauterised with the stick of caustic, and administered a salty wash?’ |
“Tâu bệ hạ, xin hãy nghe một lý do khác nữa cho việc làm như vậy. Giả sử khi chữa trị một vết thương đầy máu và chất dịch, mà trong cái vết thương khủng khiếp ấy, vũ khí gây ra vết thương vẫn còn bốc mùi thịt thối rữa, và càng trở nên trầm trọng hơn bởi cơn đau thay đổi liên tục với các triệu chứng thay đổi, bởi sự thay đổi nhiệt độ, và bởi sự kết hợp của ba loại dịch - phong, mật và đờm - một bác sĩ phẫu thuật tài giỏi sẽ xức lên vết thương một loại thuốc mỡ thô, sắc, đắng, gây châm chích, với mục đích làm dịu cơn viêm. Và khi cơn viêm đã dịu đi, và vết thương trở nên giảm đau, giả sử lúc đó ông ta sẽ dùng dao mổ rạch vào vết thương và đốt nó bằng chất cồn. Và khi đã đốt nó, giả sử ông ta bôi thuốc rửa kiềm và xức một loại thuốc nào đó để vết thương có thể lành lại và người bệnh hồi phục sức khỏe - bây giờ, thưa đức vua, hãy cho tôi biết, liệu có phải vì sự tàn nhẫn mà bác sĩ phẫu thuật đã bôi thuốc mỡ, cắt bằng dao, đốt bằng chất cồn và rửa bằng nước sát trùng không? |
||||
‘Certainly not, Sir; it would be with kindness in his heart, and intent on the man’s weal, that he would do all those things.’ |
Chắc chắn là không, thưa Ngài; chính vì lòng tốt trong trái tim và sự quan tâm đến lợi ích của người khác nên mới làm tất cả những điều đó.' |
||||
‘And the feelings of pain produced by his efforts to heal—would not the surgeon be guilty of any wrong in respect of them?’ |
‘Và các cảm thọ khổ đau nào đã sanh lên do hành động việc làm và thuốc men đối với người ấy, —liệu bác sĩ phẫu thuật có phạm tội gì sai trái liên quan đến họ không?’ |
||||
‘How so? Acting with kind intent and for the man’s weal, how could he therein incur a wrong? It is of heavenly bliss rather that that kindly surgeon would be worthy.’ |
“Thưa ngài, người thầy thuốc phẫu thuật có tâm tốt, với ý tốt và vì lợi ích của người bệnh, làm sao có thể làm điều sai trái được? Thật là phúc đức cho vị bác sĩ phẫu thuật nhân hậu đó.” |
||||
‘Just so, great king, was it in his mercy that the Blessed One admitted Devadatta, to the end to release him from pain.’ |
‘Tâu đại vương, cũng như vậy, Đức Thế Tôn vì lòng từ bi của Ngài mà đã chấp nhận Devadatta, với mục đích giải thoát ông ta khỏi đau khổ.’ |
||||
‘Hear another and further reason, O king, why the Blessed One did so. Suppose a man had been pierced by a thorn. And another man with kindly intent and for his good were to cut round the place with another sharp thorn or with a lancet, and the blood flowing the while, were to extract that thorn. Now would it be out of cruelty that he acted so?’ |
“Tâu Đại Vương, xin hãy nghe một lý do khác nữa, tại sao Đức Thế Tôn lại làm như vậy. Giả sử một người bị gai đâm. Và một người khác, với thiện ý và vì lợi ích của người bị gai đâm, đã dùng một cái gai sắc nhọn khác hoặc một lưỡi dao cắt quanh chỗ bị thương, và đồng thời máu chảy ra, để lấy cái gai đó ra. Vậy thì hành động đó có phải là do tàn nhẫn không?” |
||||
‘Certainly not, Sir. For he acted with kindly intent, and for the man’s good. And if he had not done so the man might have died, or might have suffered such pain that he would have been nigh to death.’ |
Chắc chắn là không, thưa Trưởng Lão. Vì ông ấy đã hành động với ý tốt và vì lợi ích của người bị gai đâm. Nếu ông ấy không làm vậy, người đàn ông đó có thể đã chết, hoặc có thể đã phải chịu đựng nỗi đau đớn đến mức gần như sắp chết. |
||||
‘Just even so, great king, was it of his mercy that the Tathāgata admitted Devadatta, to the end to release him of his pain. If he had not done so Devadatta would have suffered torment in purgatory through a succession of existences, through hundreds of thousands of Kalpas.’ |
“Cũng vậy, thưa Đại Vương, chính vì lòng từ bi của Như Lai mà Ngài đã cho Devadatta xuất gia nhằm thoát khỏi sự khổ đau. Nếu không làm như vậy, Devadatta sẽ phải chịu đau khổ trong luyện ngục qua nhiều kiếp sống, qua hàng trăm ngàn Kiếp..” |
||||
‘Yes, Nāgasena, the Tathāgata turned Devadatta, who was being carried down with the flood, with his head against the stream; he again pointed out the road to Devadatta when he was lost in the jungle; he gave a firm foothold to Devadatta when he was falling down the precipice: he restored Devadatta to peace when he was swallowed up of desolation. But the reason and the meaning of these things could no one have pointed out, Nāgasena, unless he were wise as you!’ |
“Thưa Trưởng Lão Nāgasena, Như Lai đã giúp Devadatta, người đang bị dòng nước lũ cuốn trôi, ngã đầu xuống dòng nước; Ngài lại chỉ đường cho Devadatta khi ông ta lạc trong rừng; Ngài đã giúp Devadatta đứng vững khi ông ta rơi xuống vực thẳm; Ngài đã giúp Devadatta trở lại bình an khi ông ta bị nhấn chìm trong hoang tàn. Nhưng, thưa Trưởng Lão Nāgasena, nếu không có trí tuệ như Ngài, thì không ai có thể chỉ ra nguyên nhân và ý nghĩa của những điều này!” |
||||
Here ends the dilemma about Devadatta. |
Đến đây kết thúc Câu hỏi về sự xuất gia của Devadatta |
||||
5.1.4. Vessantara’s Earthquake‘Venerable Nāgasena, the Blessed One said thus: “There are these eight causes, O Bhikkhus, proximate or remote, for a mighty earthquake.” This is an inclusive statement, a statement which leaves no room for anything to be, supplemented, a statement to which no gloss can be added. There can be no ninth reason for an earthquake. If there were, the Blessed One would have mentioned it. It, is because there is no other, that he left it unnoticed. But we find another, and a ninth reason, when we are told that on Vessantara’s giving his mighty largesse the earth shook seven times. If, Nāgasena, there are eight causes for an earthquake, then what we hear of the earthquake at Vessantara’s largesse is false. And if that is true, then the statement as to the eight causes of earthquakes is false. This double-headed question, too, is subtle, hard to unravel, dark, and profound. It is now put to you. No one of less knowledge can solve it, only one wise as you.’ |
5.1.4. Những trận động đất của Bồ Tát Vessantara‘Thưa Trưởng Lão Nāgasena, Đức Thế Tôn đã nói : “Này các Tỳ kheo, có tám nguyên nhân này, dù gần hay xa, dẫn đến một trận động đất dữ dội.” Đây là một lời tuyên bố bao hàm, một lời tuyên bố không chừa chỗ cho bất cứ điều gì bổ sung, một lời tuyên bố không thay đổi. Không thể có lý do thứ chín cho một trận động đất. Nếu có, Đức Thế Tôn đã đề cập đến nó. Chính vì không có lý do nào khác, nên Ngài đã không chú ý đến nó. Nhưng chúng ta tìm thấy một lý do khác, và lý do thứ chín, khi chúng ta được nghe rằng khi Bồ Tát Vessantara bố thí đại lượng, mặt đất đã rung chuyển bảy lần. Thưa Trưởng Lão Nāgasena, nếu có tám nguyên nhân dẫn đến một trận động đất, thì những gì chúng ta nghe nói về trận động đất khi Bồ Tát Vessantara bố thí là sai. Và nếu điều đó là đúng, thì lời tuyên bố về tám nguyên nhân của trận động đất là sai. Câu hỏi hai đầu này cũng rất tinh tế, khó giải đáp, đen tối và sâu xa. Bây giờ nó được đặt ra cho Ngài. Không ai kém hiểu biết có thể giải quyết được, chỉ có người thông thái như Ngài. |
||||
‘The Blessed One made the statement you refer to, O king, and yet the earth shook seven times at Vessantara’s largesse. But that was out of season, it was an isolated occurrence, it was not included in the eight usual causes, and was not therefore reckoned as one of them. just, O king, as there are three kinds of well-known rains reckoned in the world-that of the rainy season, that of the winter months, and that of the two months Āsāḷha and Sāvana. If, besides these, any other rain falls, that is not reckoned among the usual rains, but is called “a rain out of season.” And again, O king, just as there are five hundred rivers which flow down from the Himālayas, but of these ten only are reckoned in enumerations of rivers—the Ganges, the Jumna, the Aciravatī, the Sarabhū, the Mahī, the Indus, the Sarasvatī, the Vetravatī, the Vītaṁsā, and the Candabhāgā—the others not being included in the catalogue because of their intermittent flow of water. And again, O king, just as there are a hundred or two of officers under the king, but only six of them are reckoned as officers of state—the commander-in-chief, the prime minister, and the chief judge, and the high treasurer, and the bearer of the sunshade of state, and the state sword-bearer. And why? Because of their royal prerogatives. The rest are not reckoned, they are all called simply officers. Just as in all these cases, great king, the seven times repeated earthquake at the largesse of Vessantara was, as an isolated and extra ordinary occurrence, and distinct from the eight usual ones, not reckoned among those eight causes.’ |
“Đức Thế Tôn đã nói như lời đại vương vừa nói, vậy mà đất rung chuyển bảy lần vì lòng độ lượng của Bồ Tát Vessantara. Nhưng đó là chuyện trái mùa, là một sự kiện riêng lẻ, không nằm trong tám nguyên nhân thông thường, và do đó không được tính là một trong số đó. Tâu đại vương, cũng như có ba loại mưa được biết đến trên thế gian: mưa thuộc mùa mưa, mưa mùa đông, và mưa hai tháng Āsāḷha và Sāvana. Nếu ngoài những tháng này, có bất kỳ cơn mưa nào khác rơi xuống, thì cơn mưa đó không được tính vào mưa thông thường, mà được gọi là “mưa trái mùa”. Và một lần nữa, Tâu Đại Vương, cũng như có năm trăm con sông chảy xuống từ dãy Hy Mã Lạp Sơn, nhưng trong số đó chỉ có mười con sông được tính vào danh sách các con sông—sông Hằng, sông Jumna, sông Aciravatī, sông Sarabhū, sông Mahī, sông Indus, sông Sarasvatī, sông Vetravatī, sông Vītaṁsā và sông Candabhāgā—những con sông khác không được đưa vào danh mục vì dòng nước của chúng không liên tục. Và một lần nữa, Tâu Đại Vương, cũng như có một hoặc hai trăm quan lại dưới quyền nhà vua, nhưng chỉ có sáu người được tính là quan lại của nhà nước—tổng tư lệnh, tể tướng, chánh án, quan quản lý kho bạc, người mang ô của nhà nước, và người mang kiếm của nhà nước. Và tại sao? Bởi vì đặc quyền của hoàng gia. Những người còn lại không được tính, tất cả họ đều được gọi đơn giản là quan lại. Cũng như trong tất cả những trường hợp này, thưa đại vương, trận động đất bảy lần liên tiếp do lòng độ lượng của Bồ Tát Vessantara, là một sự kiện riêng biệt và phi thường, khác biệt với tám trận động đất thông thường, không được tính vào tám nguyên nhân đó. |
||||
‘Now have you heard, O king, in the history of our faith of any act of devotion being done so as to receive its recompense even in this present life, the fame of which has reached up to the gods?’ |
‘Tâu đại vương, trong lịch sử đức tin của chúng ta, ngài có nghe nói đến bất kỳ việc làm hướng thượng đã làm ở Giáo Pháp được thực hiện để nhận được sự đền đáp ngay trong cuộc sống hiện tại này, danh tiếng của hành động đó đã vang lên ở giữa chư Thiên và nhân loại?” |
||||
‘Yes, Lord, I have heard of such. There are seven cases of such actions.’ |
“Vâng, thưa Trưởng Lão, trẫm đã nghe nói đến chuyện như vậy. Có bảy trường hợp như vậy.” |
||||
‘Who were the people who did those things?’ |
“Tâu đại vương, vậy là những ai ?” |
||||
‘And have you heard of others, O king, who, even in their human body, mounted up to the blessed abode of the great Thirty-three?’ |
‘Và Ngài có nghe nói đến những người khác trong thời quá khứ đã đi đến cung trời Đạo Lợi bằng chính thân thể và vóc dáng ấy của con người?” |
||||
‘Yes, I have heard, too, of them.’ |
“Phải, đúng vậy. Trẫm có được nghe.” |
||||
‘But have you ever heard, O king, of the earth shaking, either now or in the past, and either once or twice or thrice, when a gift had been given?’ |
“Nhưng thưa đại vương, ngài có bao giờ nghe nói đến việc mặt đất rung chuyển, bây giờ hoặc trong quá khứ, và một lần, hai lần hoặc ba lần, khi có vật thí của người này được trao tặng không?” |
||||
‘No, Sir, that I have not heard of.’ |
Không thưa Ngài, điều đó trẫm không được nghe |
||||
‘And I too, O king—though I have received the traditions, and been devoted to study, and to hearing the law, and to learning by heart, and to the acquirements of discipleship, and though I have been ready to learn, and to ask and to answer questions, and to sit at the feet of teachers—I too have never heard of such a thing, except only in the case of the splendid gift of Vessantara the glorious king. And between the times of Kassapa the Blessed One, and of the Blessed One the Sākya sage, there have rolled by hundreds of thousands of years, but in all that period I have heard of no such case. It is at no common effort, O king, at no ordinary struggle, that the great earth is moved. It is when overborne by the weight of righteousness, overpowered by the burden of the goodness of acts which testify of absolute purity, that, unable to support it, the broad earth quakes and trembles and is moved. Then it is as when a wagon is overladen with a too heavy weight, and the nave and the spokes are split, and the axletree is broken in twain. Then it is as when the heavens, overspread with the waters of the tempest driven by the wind, and overweighted with the burden of the heaped-up rain-clouds, roar and creak and rage at the onset of the whirlwind. Thus was it, great king, that the broad earth, unable to support the unwonted burden of the heaped-up and wide-reaching force of king Vessantara’s largesse, quaked and trembled and was moved. For the heart of king Vessantara was not turned in the way of lust, nor of ill-will, nor of dullness, nor of pride, nor of delusion, nor of sin, nor of disputation, nor of discontent, but it was turned mightily to generosity. And thinking: “Let all those who want, and who have not yet come, now arrive! Let all who come receive whate’er they want, and be filled with satisfaction!” it was on giving, ever and without end, that his mind was set. And on these ten conditions of heart, O king, was his mind too fixed—on self-control, and on inward calm, and on long-suffering, and on self-restraint, and on temperance, and on voluntary subjugation to meritorious vows, and on freedom from all forms of wrath and cruelty, and on truthfulness, and on purity of heart. He had abandoned, O king, all seeking after the satisfaction of his animal lusts, he had overcome all craving after a future life, his strenuous effort was set only towards the higher life. He had given up, O king, the caring for himself, and devoted himself thenceforth to caring for others alone. His mind was fixed immovably on the thought: “How can I make all beings to be at peace, healthy, and wealthy, and long lived?” And when, O king, he was giving things away, he gave not for the sake of rebirth in any glorious state, he gave not for the sake of wealth, nor of receiving gifts in return, nor of flattery, nor of long life for himself, nor of high birth, nor of happiness, nor of power, nor of fame, nor of offspring either of daughters or of sons—but it was for the sake of supreme wisdom and of the treasure thereof that he gave gifts so immense, so immeasurable, so unsurpassed. It was when he had attained to that supreme wisdom that he uttered the verse: |
‘Tâu đại vương, bần tăng cũng vậy—mặc dù bần tăng đã tiếp nhận các truyền thống, và đã tận tâm nghiên cứu, lắng nghe luật pháp, và học thuộc lòng, và đạt được các thành tựu của đệ tử, và mặc dù bần tăng đã sẵn sàng để học, và để hỏi và trả lời các câu hỏi, và ngồi dưới chân các bậc thầy—bần tăng cũng chưa bao giờ nghe nói về đại địa cầu đã rúng động một lần hoặc hai lần hoặc ba lần khi vật thí của người tên như vầy đang được trao ra, ngoại trừ việc bố thí cao quý của vị bồ tát là vua Vessantara. Và giữa thời Đức Thế Tôn Kassapa và thời Đức Thế Tôn bậc hiền triết dòng Thích Ca, đã trôi qua hàng trăm ngàn năm, nhưng trong suốt thời gian đó, bần tăng chưa từng nghe thấy trường hợp nào như vậy. Tâu Đại Vương, không phải do một nỗ lực tầm thường, không phải do một cuộc đấu tranh tầm thường mà đại địa rung chuyển. Chính khi bị sức nặng của công đức đè nặng, bị áp đảo bởi gánh nặng của những hành động thiện lành chứng tỏ sự thanh tịnh tuyệt đối, mà không thể nâng đỡ được, đại địa rộng lớn rung chuyển, run rẩy và chuyển động. Khi đó, nó giống như khi một cỗ xe ngựa bị quá tải, thân xe và các ổ trục và các vành bánh xe bị bung ra, trục xe bị gãy làm đôi. Khi đó, nó giống như khi bầu trời, tràn ngập nước của cơn bão do gió thổi, và nặng trĩu bởi sức nặng của những đám mây mưa tích tụ, gầm rú, kẽo kẹt và giận dữ khi cơn lốc bắt đầu. Như vậy, thưa đại vương, trái đất rộng lớn không thể chịu nổi sức nặng vô thường của sức mạnh rộng lớn và chất đống của sự hào phóng của vua Vessantara, nên rung chuyển, run rẩy và chuyển động. Vì trái tim của vua Vessantara không hướng về dục vọng, không hướng về ác ý, không hướng về sự trì trệ, không hướng về kiêu ngạo, không hướng về ảo tưởng, không hướng về tội lỗi, không hướng về tranh luận, không hướng về sự bất mãn, nhưng trái tim ấy hướng mạnh mẽ đến lòng quảng đại. Và nghĩ rằng: "Hãy để tất cả những ai muốn, và những ai chưa đến, hãy đến! Hãy để tất cả những ai đến nhận được bất cứ điều gì họ muốn, và được tràn đầy sự mãn nguyện!" Chính sự bố thí, không ngừng nghỉ, đã khiến tâm trí ngài hướng đến. Và, tâu đại vương, tâm trí ngài cũng tập trung vào mười điều kiện của tâm này: tự chủ, an tịnh nội tâm, nhẫn nhục, tự kiềm chế, tiết độ, tự nguyện tuân thủ những lời nguyện công đức, thoát khỏi mọi hình thức giận dữ và tàn ác, chân thật và trong sạch. Ngài đã từ bỏ, Tâu bệ hạ, tất cả những ai tìm kiếm sự thỏa mãn dục vọng xác thịt, ngài đã chế ngự mọi khao khát về một kiếp sống tương lai, nỗ lực hết mình của ngài chỉ hướng đến một đời sống cao thượng hơn. Tâu bệ hạ, ngài đã từ bỏ việc chăm sóc bản thân, và từ đó chỉ dành hết tâm trí để chăm sóc người khác. Tâm trí ngài luôn hướng về ý nghĩ: "Làm thế nào ta có thể khiến tất cả chúng sinh được an lạc, khỏe mạnh, giàu có và sống lâu?" Và, thưa bệ hạ, khi ngài bố thí, ngài không bố thí vì mục đích tái sinh vào bất kỳ cảnh giới vinh quang nào, ngài không bố thí vì mục đích giàu có, cũng không vì mục đích nhận lại quà tặng, cũng không vì sự nịnh hót, cũng không vì mục đích sống lâu, cũng không vì dòng dõi cao quý, cũng không vì hạnh phúc, cũng không vì quyền lực, cũng không vì danh vọng, cũng không vì con cái của con gái hay con trai—mà chính vì trí tuệ tối thượng và kho tàng của nó mà ngài đã bố thí những món quà vô cùng, vô lượng, vô song. Chính khi ngài đạt được trí tuệ tối thượng đó, ngài đã nói bài kệ: |
||||
My daughter, and my queen, my wife, Maddī, I gave them all away without a thought— And ‘twas for Buddhahood I did this thing.”’ |
ta đã không nghĩ suy trong khi buông bỏ — Chỉ vì lý do là sự Giác Ngộ.” |
||||
‘The angry man, O king, did the great king Vessantara conquer by mildness, and the wicked man by goodness, and the covetous by generosity, and the speaker of falsehood by truth, and all evil did he overcome by righteousness. When he was thus giving away—he who was seeking after righteousness, who had made righteousness his aim—then were the great winds, on which the earth rests below, agitated by the full force of the power of the influence that resulted from his generosity, and little by little, one by one, the great winds began to blow confusedly, and up and down and towards each side the earth swayed, and the mighty trees rooted in the soil began to totter, and masses of cloud were heaped together in the sky, and terrible winds arose laden with dust, and the heavens rushed together, and hurricanes blew with violent blasts, and a great and terrible mighty noise was given forth. And at the raging of those winds, the waters little by little began to move, and at the movement of the waters the great fish and the scaly creatures were disturbed, and the waves began to roll in double breakers, and the beings that dwell in the waters were seized with fear and as the breakers rushed together in pairs the roar of the ocean grew loud, and the spray was lashed into fury, and garlands of foam arose, and the great ocean opened to its depths, and the waters rushed hither and thither, the furious crests of their waves meeting this way and that; and the Asuras, and Garuḷas, and Yakkhas, and Nāgas shook with fear, and thought in their alarm: “What now! How now! is the great ocean being turned upside down? “ and sought, with terrified hearts, for a way of escape. And as the water on which it rests was troubled and agitated, then the broad earth began to shake, and with it the mountain ranges and the ocean depths, and Sineru began to revolve, and its rocky mountain crest became twisted. And at the trembling of the earth, the serpents, and mungooses, and cats, and jackals, and boars, and deer, and birds became greatly distressed, and the Yakkhas of inferior power wept, while those of greater power were merry. |
Tâu đại vương, đức vua Vessantara chinh phục người giận dữ bằng sự dịu dàng, và đã chinh phục kẻ gian ác bằng lòng tốt, và đã chinh phục kẻ tham lam bằng sự rộng lượng, và đã chinh phục kẻ nói dối bằng nói lời chân thật, và đã được khắc phục tất cả bất thiện bằng thiện. Khi ông ấy đã bố thí như vậy - người đang tìm kiếm sự công bằng, người đã lấy sự công bằng làm mục tiêu của mình - thì những cơn gió lớn, mà trái đất nằm bên dưới, bị khuấy động bởi toàn bộ sức mạnh của sức mạnh ảnh hưởng xuất phát từ sự rộng lượng của ông ấy, và dần dần, từng cơn một, những cơn gió lớn bắt đầu thổi hỗn loạn, và lên xuống và về mỗi phía, mặt đất lắc lư, và những cây đại thụ bám rễ trong đất bắt đầu lung lay, và những đám mây chồng chất lên nhau trên bầu trời, và những cơn gió khủng khiếp nổi lên mang theo bụi, và các tầng trời xô vào nhau, và những cơn bão thổi với những luồng gió dữ dội, và một tiếng ồn lớn và khủng khiếp đã phát ra. Và theo sự cuồng nộ của những cơn gió đó, nước bắt đầu chuyển động dần dần, và theo sự chuyển động của nước, những con cá lớn và các sinh vật có vảy bị xáo trộn, và những con sóng bắt đầu cuộn thành những con sóng đôi, và những sinh vật sống trong nước bị sợ hãi và khi những con sóng lao vào nhau thành từng cặp, tiếng gầm của đại dương trở nên lớn hơn, và bọt nước bị quất vào nhau dữ dội, và những vòng bọt nổi lên, và đại dương mở ra đến tận đáy, và nước chảy qua lại, những đỉnh sóng dữ dội gặp nhau theo cách này và cách khác; và các loài A-tu-la (Asuras), và các thần Kim-xí-điểu (Garuḷas), và Dạ-xoa (Yakkhas), và Rồng (Nāgas) run rẩy vì sợ hãi, và nghĩ trong sự hoảng loạn của họ: "Bây giờ thì sao! Bây giờ thì sao! đại dương lớn đang bị đảo lộn sao? " và tìm kiếm, với trái tim kinh hoàng, một con đường thoát thân. Và khi dòng nước mà nó nằm trên đó bị khuấy động và dao động, thì mặt đất rộng lớn bắt đầu rung chuyển, và cùng với nó là các dãy núi và độ sâu của đại dương, và núi Sineru bắt đầu xoay tròn, và đỉnh núi đá của nó bị xoắn lại. Và trước sự rung chuyển của mặt đất, rắn, mèo, chó rừng, lợn rừng, hươu, và chim chóc trở nên vô cùng đau khổ, và những con Dạ-xoa Yakkha có sức mạnh yếu hơn khóc lóc, trong khi những Dạ-xoa Yakkha có sức mạnh lớn hơn lại vui vẻ. |
||||
‘Just, O king, as when a huge and mighty cauldron, full of water and crowded with grains of rice, is placed over a fireplace, then the fire burning beneath heats first of all the cauldron, and when that has become hot the water begins to boil, and as the water boils the grains of rice are heated and dive hither and thither in the water, and a mass of bubbles arises, and a garland of foam is formed—just so, O king, king Vessantara gave away whatsoever is in the world considered most difficult to bestow, and by reason of the nature of his generosity the great winds beneath were unable to refrain from being agitated throughout, and on the great winds being thrown into confusion the waters were shaken, and on the waters being disturbed the broad earth trembled, and so then the winds and the waters and the earth became all three, as it were, of one accord by the immense and powerful influence that resulted from that mighty giving. And there was never another giving, O king, which had such power as that generosity of the great king Vessantara. |
‘Tâu bệ hạ, cũng giống như khi một cái vạc lớn và hùng vĩ, chứa đầy nước và đầy những hạt gạo, được đặt trên cái lò, thì ngọn lửa cháy bên dưới làm nóng vạc trước tiên, và khi nó nóng lên, nước bắt đầu sôi, và khi nước sôi, những hạt gạo được làm nóng và lặn xuống đó trong nước, và một khối bọt nổi lên, và một vòng hoa bọt được hình thành - cũng giống như vậy, thưa bệ hạ, vua Vessantara đã bố thí bất cứ thứ gì trên thế gian được coi là khó bố thí nhất, và do bản chất độ lượng của ông, những cơn gió lớn bên dưới không thể không bị khuấy động khắp nơi, và khi những cơn gió lớn bị xáo trộn, nước bị rung chuyển, và khi nước bị khuấy động, mặt đất rộng lớn rung chuyển, và như vậy, gió, nước và đất trở thành cả ba, như thể, một sự hòa hợp bởi ảnh hưởng to lớn và mạnh mẽ xuất phát từ sự bố thí vĩ đại đó. Và chưa bao giờ có sự bố thí nào khác, thưa bệ hạ, có sức mạnh như sự bố thí của vị vua bồ tát Vessantara. |
||||
‘And just, O king, as there are many gems of value found in the earth—the sapphire, and the great sapphire, and the wish-conferring gem, and the cat’s eye, and the flax gem, and the Acacia gem, and the entrancing gem, and the favourite of the sun, and the favourite of the moon, and the crystal, and the kajjopakkamaka, and the topaz, and the ruby, and the Masāra stone —but the glorious gem of the king of kings is acknowledged to be the chief of all these and surpassing all, for the sheen of that jewel, O king, spreads round about for a league on every side —just so, O king, of all the gifts that have ever been given upon earth, even the greatest and the most unsurpassed, that giving of the good king Vessantara is acknowledged to surpass them all. And it was on the giving of that gift, O king, that the broad earth shook seven times.’ |
‘Và cũng vậy, tâu đại vương, vì có nhiều loại ngọc quý giá được tìm thấy trên trái đất—ngọc bích, ngọc lục, ngọc như ý, ngọc hoa lanh, ngọc hoa keo, ngọc thu hồn, ngọc nhật lệ, ngọc nguyệt lệ, ngọc kịm cương, và viên pha lê, và ngọc kajjopakkamaka, và ngọc topaz, và hồng ngọc, và đá Masāra—nhưng viên ngọc lộng lẫy của các vị vua được công nhận là đứng đầu trong số tất cả những viên ngọc này và vượt trội hơn tất cả, vì ánh sáng của viên ngọc đó, tâu đại vương, lan tỏa khắp một dặm về mọi phía—cũng vậy, tâu đại vương, trong tất cả những món quà đã từng được ban tặng trên trái đất, ngay cả món quà vĩ đại nhất và vô song nhất, thì món quà của đức vua Vessantara được công nhận là vượt trội hơn tất cả. Và chính khi ban tặng món quà đó, tâu đại vương, mà mặt đất rộng lớn đã rung chuyển bảy lần.’ |
||||
‘A marvellous thing is it, Nāgasena, of the Buddhas, and a most wonderful, that the Tathāgata even when a Bodisat (in the course of becoming a Buddha) was so unequalled in the world, so mild, so kind, and held before him aims so high, and endeavours so grand. You have made evident, Nāgasena, the might of the Bodisats, a most clear light have you cast upon the perfection of the Conquerors, you have shown how, in the whole world of gods and men, a Tathāgata, as he continues the practice of his noble life, is the highest and the best. Well spoken, venerable Nāgasena. The doctrine of the Conqueror has been exalted, the perfection of the Conqueror has been glorified, the knot of the arguments of the adversaries has been unravelled, the jar of the theories of the opponents has been broken in pieces, the dilemma so profound has been made clear, the jungle has been turned into open country, the children of the Conqueror have received the desire of their hearts. It is so, as you say, O best of the leaders of schools, and I accept that which you have said!’ |
Thật là kỳ diệu, thưa Trưởng Lão Nāgasena, trong số các Đức Phật, và thật kỳ diệu thay, Đức Như Lai, ngay cả khi một vị Bồ Tát (trong quá trình thành Phật) vẫn vô song trên thế gian, rất hiền hòa, rất nhân từ, và được đặt trước Ngài những mục tiêu cao cả và những nỗ lực vĩ đại. Thưa Tôn Giả Nāgasena, Ngài đã làm sáng tỏ uy lực của các vị Bồ Tát, Ngài đã chiếu rọi một ánh sáng vô cùng trong sáng lên sự hoàn hảo của các Đấng Chiến Thắng, Ngài đã chỉ ra rằng, trong toàn thể thế giới của chư thiên và loài người, một vị Như Lai, khi tiếp tục thực hành cuộc sống cao quý của mình, là bậc cao quí nhất và tốt nhất. Thật chí lý, thưa Trưởng Lão Nāgasena. Giáo lý của Đấng Chiến Thắng đã được tôn vinh, sự hoàn hảo của Đấng Chiến Thắng đã được tôn vinh, nút thắt lập luận của đối phương đã được tháo gỡ, chiếc bình lý thuyết của đối phương đã bị đập tan thành từng mảnh, thế tiến thoái lưỡng nan sâu sắc đã được làm sáng tỏ, rừng rậm đã được biến thành đồng cỏ rộng mở, con cháu của Đấng Chiến Thắng đã nhận được điều mình mong muốn. Đúng như lời ngài nói, hỡi những người lãnh đạo xuất sắc nhất của các trường phái, và trẫm xin chấp nhận những gì ngài đã nói! |
||||
Here ends the dilemma as to the earthquake at Vessantara’s gift. |
Đến đây kết thúc các câu hỏi liên quan đến trận động đất do sự bố thí Bồ Tát Vessantara. |
||||
5.1.5. King Sivi‘Venerable Nāgasena, your people say thus: “King Sivi gave his eyes to the man who begged them of him, and when he had thus become blind, new eyes were given to him from heaven.” This statement is unpalatable, it lays its speaker open to rebuke, it is faulty. For it is said in the Sutta: “When the cause has been utterly destroyed, when there is no longer any cause, any basis left, then the divine eye cannot arise.” So if he gave his eyes away, the statement that he received new (divine) ones must be false: and if divine eyes arose to him; then the statement that he gave his eyes away must be false. This dilemma too is a double-pointed one, more knotty than a knot, more piercing than an arrow, more confusing than a jungle. It is now put to you. Rouse up in yourself the desire to, accomplish the task that is set to you, to the refutation of the adversaries!’ |
5.1.5. Vua Sivi‘Thưa Tôn giả Nāgasena, các để tử của Ngài đã nói như sau: “Vua Sivi đã bố thí Ngài đôi mắt của mình cho kẻ cầu xin, và khi người đó bị mù, đôi mắt mới đã được ban cho anh ta từ thiên đường.” sự sái quấy, có sự bắt bẻ, có khuyết điểm. Điều đã được nói ở trong Kinh là: ‘Khi nhân đã bị lấy đi, khi không có nhân, khi không có nền tảng, thì không có sự tạo ra thiên nhãn. Vì vậy, nếu Vua Sivi đã cho đi đôi mắt của mình, thì lời tuyên bố rằng ông ta đã nhận được đôi mắt mới do một thiên nhãn phải là sai: và nếu thiên nhãn hiện ra với ông ta; thì lời tuyên bố rằng ông ta đã cho đi đôi mắt của mình phải là sai. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, bị thắt lại còn hơn nút thắt, bị xoắn lại còn hơn vật xoắn, bị rối rắm còn hơn bụi rậm, nó được dành cho ngài. Ở đây, xin ngài hãy khởi lên ước muốn về việc giải quyết vì sự bắt bẻ của các học thuyết khác !’ |
||||
‘King Sivi gave his eyes away, O king. Harbour no doubt on that point. And in stead thereof divine eyes were produced for him. Neither on that point should you harbour doubt.’ |
“Tâu đại vương, vua Sivi đã hiến tặng đôi mắt của mình. Đừng nghi ngờ gì về điều đó. Và thay vào đó, đôi mắt thần thánh đã được tạo ra cho ngài. Về điểm đó, ngài cũng đừng nghi ngờ gì nữa.” |
||||
‘But then, Nāgasena, can the divine eye arise when the cause of it has been utterly destroyed, when no cause for it, no basis, remains?’ |
“Nhưng vậy thì, thưa Tôn Giả Nāgasena, liệu thiên nhãn có thể khởi sinh khi nguyên nhân của nó đã hoàn toàn bị tiêu diệt, khi không còn nguyên nhân nào cho nó, không còn nền tảng nào, còn tồn tại không?” |
||||
‘Certainly not, O king.’ |
"Không đúng, tâu đại vương" |
||||
‘What then, O king? Is there in the world such a thing as Truth, by the asseveration of which true believers can perform the Act of Truth ?’ |
“Vậy thì, thưa đức vua? Trên đời này có điều gì gọi là Chân Đế, mà nhờ đó những người có đức tin chân chính có thể phát nguyện Hành động Chân Đế không?” |
||||
‘Yes, Lord, there is. And by it true believers make the rain to fall, and fire to go out, and ward off the effects of poison, and accomplish many other things they want to do.’ |
Thưa Ngài, có cái gọi là sự chân thật ở thế gian . Và nhờ nó, những người nói lời chân thật với sự chân thật tạo ra sự phát nguyện chân thật khiến cho trời đổ mưa, khiến cho lửa bị dập tắt, làm tiêu tan chất độc, và còn tạo ra việc có thể làm các loại khác nữa.” |
||||
‘Then, great king, that fits the case, that meets it on all fours. It was by the power of Truth that those divine eyes were produced for Sivi the king. By the power of the Truth the divine eye arose when no other cause was present, for the Truth itself was, in that case, the cause of its production. Suppose, O king, any Siddha (accomplished one) on intoning a charm, and saying: “Let a mighty rain now fall!” were to bring about a heavy rainfall by the intoning of his charm—would there in that case be any cause for rain accumulated in the sky by which the rain could be brought about?’ |
‘Vậy thì, thưa đại vương, điều đó hợp lý, điều đó gặp phải trên cả bốn chân. Chính nhờ nhờ vào năng lực của sự chân đế mà thiên nhãn đã được tạo ra cho vua Sivi. Nhờ vào năng lực của sự chân thật , thiên nhãn đã xuất hiện khi không có nguyên nhân nào khác hiện diện, vì trong trường hợp đó, chính Chân Đế là nguyên nhân của sự xuất hiện của nó. Tâu đại vương, giả sử có một Siddha (người thành tựu) nào đó đọc thần chú và nói: “Xin cho một trận mưa lớn rơi xuống!” và tạo ra một trận mưa lớn bằng cách đọc thần chú của mình - trong trường hợp đó, liệu có bất kỳ nguyên nhân nào khiến mưa tích tụ trên bầu trời để mưa có thể xảy ra không?’ |
||||
‘No, Sir. The charm itself would be the cause.’ |
Thưa Tôn Giả, không đúng. Trong trường hợp ấy, chính sự chân thật là nhân cho việc của cơn mưa lớn.” |
||||
‘Just so, great king, in the case put. There would be no ordinary cause. The Truth itself would be sufficient reason for the growth of the divine eye!’ |
“Đúng vậy, thưa đại vương, trong trường hợp này, sẽ không có nguyên nhân thông thường nào cả. Chính Chân Đế mới là lý do đủ để phát triển thiên nhãn!” |
||||
‘Now suppose, O king, a Siddha were to intone a charm, and say: “Now let the mighty blazing, raging mass of fire go back!” and the moment the charm were repeated it were to retreat—would there be any cause laid by which would work that result?’ |
‘Tâu đại vương, bây giờ, giả sử một đạo sĩ Siddha đọc thần chú và nói: “‘Xin cho khối lửa lớn đã bộc phát hãy quay trở lại;’ cùng với việc đã cầu khấn lời chân thật của những người ấy, khối lửa lớn đã bộc phát tức thời quay trở lại. Tâu đại vương, phải chăng ở khối lửa lớn đã bộc phát ấy có nhân đã được hội tụ lại, mà do nhân ấy khối lửa lớn đã bộc phát tức thời quay trở lại?” |
||||
‘No, Sir. The charm itself would be the cause.’ |
“Thưa Tôn Giả, không đúng. Chính sự chân thật là nền tảng cho việc tức thời quay trở lại của khối lửa lớn đã bốc phát ấy.” |
||||
‘Now suppose, O king, one of those Siddhas were to intone a charm, and were then to say: “Let this malignant poison become as a healing drug!” and the moment the charm were repeated that would be so—would there be any cause in reserve for that effect to be produced?’ |
‘Tâu đại vương, giả sử một trong những vị đạo sĩ đó đọc một câu thần chú, và sau đó nói: “Hãy để chất độc ác này trở thành một loại thuốc chữa bệnh!” và ngay khi câu thần chú được lặp lại thì điều đó sẽ xảy ra—liệu có nguyên nhân nào để tạo ra hiệu ứng đó không?’ |
||||
‘Certainly not, Sir. The charm itself would cause the warding off of that malignant poison.’ |
Chắc chắn là không, thưa ngài. Trong trường hợp ấy, chính sự chân thật là nguyên nhân cho việc tức thời tiêu diệt chất độc dữ dội.” |
||||
‘Just so, great king, without any ordinary cause the Truth itself was, in king Sivi’s case, a sufficient reason for the reproduction of his eyes.’ |
‘Cũng vậy, thưa đại vương, không có lý do thông thường nào cả, trong trường hợp của vua Sivi, chính Chân Đế đã là lý do đủ để tái tạo lại đôi mắt của ngài.’ |
||||
‘Now there is no other cause, O king, for the attainment of the four Noble Truths. It is only by means of an Act of Truth that they are attained. In the land of China, O king, there is a king of China, who when he wants to charm the great ocean, performs at intervals of four months a solemn Act of Truth, and then on his royal chariot drawn by lions, he enters a league’s distance into the great ocean. Then in front of the head of his chariot the mighty waves roll back, and when he returns they flow once more over the spot. But could the ocean be so drawn back by the ordinary bodily power of all gods and men combined?’ |
“Tâu Đại Vương, bây giờ không còn nguyên nhân nào khác cho việc chứng ngộ Tứ Diệu Đế. Chỉ có Tứ Diệu Đế mới có thể chứng ngộ. Tâu Đại Vương, ở Cīna, có một vị vua, Đức vua có ước muốn tiến hành việc cúng tế ở đại dương nên đã thực hiện sự phát nguyện chân thật vào mỗi bốn tháng, rồi cùng với đoàn xe có các tùy tùng đến đại dương cách đó một dặm. Khối lượng nước vĩ đại đi thụt lùi ở phía trước đầu chiếc xe của đức vua, đến khi đức vua đã vượt qua thì bao trùm lại. Tâu đại vương, phải chăng thế gian có cả chư Thiên và nhân loại, với năng lực của cơ thể bình thường, có thể khiến cho đại dương ấy đi thụt lùi?” |
||||
‘Sir, even the water in a small tank could not be so made to retire, how much less the waters of the great ocean!’ |
‘Thưa Tôn Giả, ngay cả nước trong một chiếc bể nhỏ cũng không thể rút ra được, huống chi là nước trong đại dương bao la!’ |
||||
‘By this know then the force of Truth. There is no place to which it does not reach.’ |
‘Nhờ đó, hãy nhận biết sức mạnh của Chân Đế. Không nơi nào mà nó không vươn tới.’ |
||||
‘When Asoka the righteous ruler, O king, as he stood one day at the city of Pātaliputta in the midst of the townsfolk and the country people, of his officers and his servants, and his ministers of state, beheld the Ganges river as it rolled along filled up by freshets from the hills, full to the brim and overflowing—that mighty stream five hundred leagues in length, and a league in breadth—he said to his officers: “Is there any one, my good friends, who is able to make this great Ganges flow backwards and up stream?” |
‘Thưa đại vương, vị vua công chính Asoka, một ngày nọ, khi ngài đứng tại thành Pātaliputta, giữa dân chúng thành thị và nông thôn, các quan lại, tôi tớ và các quan đại thần của ngài, ngài nhìn thấy sông Hằng đang cuồn cuộn chảy, nước lũ từ các ngọn đồi tràn vào, đầy ắp và tràn bờ - dòng nước hùng vĩ dài năm trăm dặm và rộng một dặm - ngài nói với các quan của mình: “Hỡi các bạn tốt của ta, có ai có thể làm cho dòng sông Hằng vĩ đại này chảy ngược dòng không?” |
||||
“‘Nay, Sire, impossible,” said they. |
Các quan đại thần đã nói rằng: ‘Tâu bệ hạ, là việc khó làm.’ |
||||
‘Then when the king heard the din and the noise of the movement of the waves of the whirlpools of the mighty Ganges, amazed, and struck with awe and wonder, he said to his officers: “How is this, that the great Ganges is flowing backwards?” |
Rồi nhà vua nghe tiếng ồn ào và tiếng sóng vỗ mạnh của dòng nước xoáy trên sông Hằng hùng vĩ, vô cùng kinh ngạc và kinh ngạc, vua nói với các quan của mình: "Sao sông Hằng vĩ đại lại chảy ngược như vậy?" |
||||
‘And they told him what had happened. Then filled with emotion the king went himself in haste and asked the courtesan: “Is it true what they say, that it is by your Act of Truth that this Ganges has been forced to flow backwards?” |
Và họ kể lại cho vua nghe chuyện đã xảy ra. Đầy xúc động, nhà vua vội vã đến hỏi kỹ nữ: “Có đúng như lời họ nói không, rằng chính nhờ thực hiện nguyện chân thật của nàng mà sông Hằng đã chảy ngược?” |
||||
“‘Yes, Sire,” said she. |
"Tâu đại vương, chính vậy |
||||
‘And she replied: “It is by the power of Truth, great king.” |
Và nàng trả lời: “Đó là nhờ sức mạnh của Chân Đế, thưa đại vương.”
|
||||
“‘It is true, O king, what you say. That is just the kind of creature I am. But even in such a one as I so great is the power of the Act of Truth that I could turn the whole world of gods and men upside down by it.” |
“Tâu đại vương, ngài nói đúng. Tôi chính là loại sinh vật như vậy. Nhưng ngay cả trong một sinh vật như tôi, sức mạnh của Đạo luật Chân Đế vẫn quá lớn, đến nỗi bần tăng có thể đảo lộn cả thế giới của chư thiên và loài người bằng nó.” |
||||
‘Then the king said: “What is this Act of Truth? Come now, let me hear about it.” |
Bấy giờ nhà vua nói: “Đạo luật Chân Đế này là gì? Hãy đến đây, cho trẫm nghe về nó.” |
||||
“‘Whosoever, O king, gives me gold—be he a noble or a brahman or a tradesman or a servant—I regard them all alike. When I see he is a noble I make no distinction in his favour. If I know him to be a slave I despise him not. Free alike from fawning and from dislike do I do service to him who has bought me. This, your Majesty, is the basis of the Act of Truth by the force of which I turned the Ganges back.”’ |
‘Vậy thì xin đại vương hãy lắng nghe thiếp. Tâu đại vương, bất cứ ai ban vàng cho thần, dầu là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hoặc thương buôn, hay nô lệ, hoặc là bất cứ ai, thì thiếp phục vụ những người ấy đều bình đẳng. Là ‘Sát-đế-lỵ’ không có gì đặc biệt. Là ‘nô lệ’ không có gì khinh chê. Thiếp hầu hạ người có của cải, thoát ra khỏi sự nuông chiều hay ghét bỏ. Tâu bệ hạ, điều ấy là sự phát nguyện chân thật của thiếp, nhờ nó mà thiếp đã làm cho con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng.’ |
||||
‘Thus, O king, is it that there is nothing which those who are stedfast to the truth may not enjoy. And so king Sivi gave his eyes away to him who begged them of him, and he received eyes from heaven, and that happened by his Act of Truth. But what is said in the Sutta that when the eye of flesh is destroyed, and the cause of it, the basis of it, is removed, then can no divine eye arise, that is only said of the eye, the insight, that arises out of contemplation. And thus, O king, should you take it.’ |
‘Tâu bệ hạ, như vậy chẳng có gì mà những người kiên định với chân đế không được hưởng. Và vì thế, vua Sivi đã trao tặng đôi mắt của mình cho người cầu xin, và ngài đã nhận được đôi mắt từ cõi trời, và điều đó đã xảy ra nhờ sự phát nguyện chân thật của ngài. Nhưng điều được nói trong Kinh là ‘Khi nhục nhãn đã bị hư hoại, khi không có nhân, khi không có nền tảng, thì không có sự tạo ra của thiên nhãn,’ điều ấy được nói liên quan đến con mắt có vật liệu là sự tu tập. Tâu đại vương, xin đại vương hãy ghi nhớ điều này như thế.” |
||||
‘Well said, Nāgasena! You have admirably solved the dilemma I put to you; you have rightly explained the point in which I tried to prove you wrong; you have thoroughly overcome the adversary. The thing is so, and I accept it thus.’ |
Thưa Tôn Giải Nāgasena nói rất đúng! Ngài đã giải thích một cách xuất sắc vấn đề nan giải mà trẫm đặt ra cho ngài; ngài đã giải thích đúng đắn luận điểm mà trẫm cố gắng chứng minh ngài sai; ngài đã hoàn toàn chiến thắng đối thủ. Sự việc là như vậy, và trẫm chấp nhận như vậy. |
||||
Here ends the dilemma as to king Sivi’s Act of Truth. |
Đến đây thì kết thúc sự phát nguyện Chân Thật của vua Sivi. |
||||
Đầu trang | 1 | 2 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | |
|||||
Cập nhập ngày:
Thứ Năm 1-9-2022 |