Once the Blessed One was dwelling in the Vajji country, at Ukkacela on the bank of the river Ganges, not long after Sariputta and Maha Moggallana had passed away.
And at that time the Blessed One was seated in the open, surrounded by company of monks.




Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Vajjii, tại Ukkacelà, trên bờ sông Hằng, với đại chúng Tỷ-kheo, sau khi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Moggalàna mệnh chung không bao lâu.
Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây.

 

The Blessed One surveyed the silent gathering of monks, and then spoke to them, saying:



Rồi Thế Tôn, sau khi nh́n quanh chúng Tỷ-kheo im lặng, liền nói với các Tỷ-kheo:

 

"This assembly, O bhikkhus, appears indeed empty to me, now that Sariputta and Maha Moggallana have passed away. Not empty, for me, is an assembly, nor need I have concern for a place where Sariputta and Maha Moggallana dwell.



Này các Tỷ-kheo, chúng này của Ta được xem h́nh như trống không. Nay Sàriputta và Moggalàna đă mệnh chung, này các Tỷ-kheo, chúng của Ta thành trống không. Phương hướng nào Sàriputta và Moggalàna trú, phương hướng ấy không c̣n có ước vọng ǵ (anapekkhà).

 

"Those who in the past have been Holy Ones. Fully enlightened Ones, those Blessed Ones, too, had such excellent pairs of disciples as I had in Sariputta and Maha Moggallana. Those who in the future will be Holy Ones, fully Enlightened Ones, those Blessed Ones too will have such excellent pairs of disciples as I had in Sariputta and Maha Moggallana.



Này các Tỷ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ, các vị Thế Tôn ấy đă có một cặp đệ tử tối thắng như Ta có Sàriputta và Moggalàna. Này các Tỷ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nào trong đời vị lai, những bậc Thế Tôn ấy sẽ có một cặp đệ tử tối thắng như Ta có Sàriputta và Moggalàna.

 

"Marvelous it is, most wonderful it is, bhikkhus, concerning those disciples, that they will act in accordance with the Master's Dispensation, will act in according to his advice; that they will be dear to the four Assemblies, will be loved, respected and honored by them. Marvelous it is, most wonderful it is, bhikkhus, concerning the Perfect Ones, that when such a pair of disciples has passed away there is no grief, no lamentation on the part of the Perfect One.



Thật là vi diệu thay về các đệ tử, này các Tỷ-kheo! Thật hy hữu thay về các đệ tử, này các Tỷ-kheo! Họ thực hành những lời dạy của đức Bổn sư. Họ làm trách nhiệm giáo giới. Họ được bốn chúng ái kính, khả ư, khả kính, quư mến. Thật vi diệu thay, này các Tỷ-kheo, về Như Lai! Thật hy hữu thay, này các Tỷ-kheo, về Như Lai! Trong khi cặp đệ tử như vậy mệnh chung, Như Lai không có sầu buồn, hay không có than khóc.

 

For of that which is born, come to being, put together, and so is subject to dissolution, how should it be said that it should not depart? That indeed, is not possible."



Làm sao, này Ananda, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong sao cái ǵ được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không xảy ra.

 

"Therefore, bhikkhus, be ye an island unto yourselves, a refuge unto yourselves, seeking no external refuge; with the Teaching as your island, the Teaching your refuge, seeking no other refuge."


Do vậy, này các Tỷ-kheo, hăy tự ḿnh là ngọn đèn cho chính ḿnh, hăy tự ḿnh nương tựa chính ḿnh, chớ nương tựa một ǵ khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nượng tựa một điều ǵ khác.

 

See also: DN 16, SN 47.13

 Chủ biên và điều hành: TT Thích Giác Đẳng.

 Những đóng góp dịch thuật xin gửi về TT Thích Giác Đẳng tại giacdang@phapluan.com
Cập nhập ngày: Thứ Sáu 08-11-2006

Kỹ thuật tŕnh bày: Minh Hạnh & Thiện Pháp

Trang kế | trở về đầu trang | Home page |