Contents

Contents

Part III The Further Shore  

The Last Debt Paid  

We now come to the year of the Master's Parinibbana. The Blessed One had spent the rainy season at Beluva village,[42] near Vesali, and when the Retreat was over he left that place and, going by the way he had come, returned by stages to Savatthi and arrived at the Jeta Grove Monastery.

There the Elder Sariputta, the Marshal of the Law, paid homage to the Blessed One and went to his day quarters. When his own disciples had saluted him and left, he swept the place and spread his leather mat. Then, having rinsed his feet, he sat down cross-legged and entered into the state of the Fruition Attainment of Arahatship.

Phần III: Bờ Bên Kia  

Trả Xong Món Nợ Cuối Cùng  

Bây giờ chúng ta đến với năm Tôn Sư nhập Đại Niết Bàn. Đức Thế Tôn đã trải qua mùa mưa tại làng Belura,[42] gần Vesali, và khi mùa An cư kiết hạ kết thúc, ngài rời khỏi nơi đó và, đi theo con đường ngài đã đến, trở về bằng cách đi qua Savatthi và đến Tu viện Kỳ Viên.

Ở đó, Trưởng lão Sariputta, Nguyên soái của Pháp, đảnh lễ Thế Tôn và đi đến khu tịnh xá của ông. Khi các đệ tử của ông chào ông và rời đi, ông quét dọn nơi đó và trải tấm thảm da của ông. Sau khi rửa chân, ông ngồi kiết già và nhập vào trạng thái của quả vị A-la-hán.

At the time predetermined by him, he arose from the meditation, and this thought occurred to him: "Do the Enlightened Ones have their final passing away first, or the Chief Disciples?" And he saw that it is the Chief Disciples who pass away first. Thereupon he considered his own life-force, and saw that its residue would sustain him only for another week.

He then considered: "Where shall I have my final passing away?" And he thought: "Rahula finally passed away among the deities of the Thirty-three, and the Elder Kondañña the Knower at the Chaddanta Lake.[43] Where, then, will be my place?"

While thinking this over repeatedly he remembered his mother, and the thought came to him: "Although she is the mother of seven Arahats[44] she has no faith in the Buddha, the Dhamma and the Sangha. Has she the supportive conditions in her to acquire that faith or has she not?"

Tại thời điểm tự xác định trước, ông xuất thiền và ý nghĩ này nảy sinh trong ông: "Các đấng Giác Ngộ có sự qua đời lần cuối cùng trước, hay các vị Trưởng Đệ tử?" Và ông thấy rằng các vị Trưởng Đệ tử qua đời trước. Ngay sau đó ông xem xét sinh lực của mình, và thấy rằng dư lượng của nó chỉ giúp ông duy trì thêm một tuần nữa.

Rồi ông cân nhắc: "Ta nên có sự qua đời lần cuối cùng của mình ở đâu? Và ông nghĩ: "Rahula cuối cùng qua đời giữa chư thiên của cung Trời Đạo Lợi, và Trưởng lão Kondañña Người Biết ở hồ Chaddanta.[43] Thế thì đâu sẽ là chỗ của mình?"

Trong khi ngẫm nghĩ điều này nhiều lần ông nhớ đến mẹ mình, và ý nghĩ đến với ông: "Mặc dù bà là mẹ của bảy vị A-la-hán,[44] bà không có niềm tin vào Phật, Pháp và Tăng. Liệu bà có đủ điều kiện hỗ trợ trong bà để có được niềm tin đó hay không?"

Investigating the matter he discerned that she had the supportive conditions for the Path-intuition (abhisamaya) of stream-entry. Then he asked himself: "Through whose instruction can she win to the penetration of truth?"

And he saw that not through anyone else's but only through his own instruction in the Dhamma, could it come about. And following upon that came the thought: "If I now remain indifferent, people will say: 'Sariputta has been a helper to so many others; on the day, for instance, when he preached the Discourse to the Deities of Tranquil Mind a large number of devas attained Arahatship, and still more of them penetrated to the first three Paths; and on other occasions there were many who attained to stream-entry, and there thousands of families who were reborn in heavenly worlds after the Elder had inspired them with joyous confidence in the Triple Gem. Yet despite this he cannot remove the wrong views of his own mother? Thus people may speak of me. Therefore I shall free my mother from her wrong views, and shall have my final passing away in the very chamber where I was born."

Xem xét vấn đề thì ông nhận thức rằng bà có đủ điều kiện hỗ trợ cho trực giác Đạo (abhisamaya) của quả vị Nhập lưu. Sau đó ông tự hỏi: "Qua sự hướng dẫn của ai thì bà có thể đạt được sự hiểu thấu chân lý?"

Và ông thấy rằng nó chỉ có thể đến không qua ai khác ngoài sự hướng dẫn về Pháp của chính ông. Và sau đó nảy sinh ý nghĩ: "Nếu bây giờ ta vẫn dửng dưng, người ta sẽ nói: 'Sariputta là người hỗ trợ cho rất nhiều người khác; chẳng hạn, vào ngày ông thuyết giảng Kinh Chư Thiên của Tâm Tĩnh Lặng, một số lượng lớn chư thiên đạt được quả vị A-la-hán, và nhiều vị khác thâm nhập vào ba đường Đạo đầu tiên; và vào những dịp khác có nhiều người đạt được quả vị nhập lưu, và hàng ngàn gia đình đã được tái sinh trong những cõi thiên sau khi Trưởng lão truyền cảm hứng cho họ với niềm hân hoan tin tưởng vào Tam Bảo. Mặc dù vậy ông không thể loại bỏ được những quan điểm sai lầm của mẹ mình chăng? Người ta có thể nói về mình như thế. Vì vậy ta sẽ giải thoát mẹ khỏi những quan điểm sai lầm của bà, và sẽ trút hơi thở cuối cùng ngay trong căn phòng nơi ta sinh ra."

Having made that decision, he thought: "This very day I shall ask the Master's permission and then leave for Nalaka." And, calling the elder Cunda, who was his attendant, he said: "Friend Cunda, please ask our group of five hundred bhikkhus to take their bowls and robes, for I wish to go to Nalaka." And the elder Cunda did as he was bidden.

The bhikkhus put their lodgings in order, took their bowls and robes, and presented themselves before the Elder Sariputta. He, for his own part, had tidied up his living quarters and swept the place where he used to spend the day. Then, standing at the gate, he looked back at the place, thinking: "This is my last sight of it. There will be no more coming back."

Then, together with the five hundred bhikkhus he went to the Blessed One, saluted him and spoke: "May, O Lord, the Blessed One permit, may the Exalted One consent: the time of my final passing away has come, I have relinquished the life-force.

Khi quyết định như vậy, ông nghĩ: "Hôm nay ta sẽ xin phép Tôn Sư và sau đó đi đến Nalaka." Và gọi trưởng lão Cunda, thị giả của ông, ông nói: "Bạn Cunda, xin hảy yêu cầu nhóm năm trăm tỳ khưu của chúng ta lấy y bát của họ, vì tôi muốn đi Nalaka." Và trưởng lão Cunda đã làm theo như vậy.

Chư tỳ khưu sắp xếp chỗ ở của họ cho ngăn nắp, lấy y bát, và trình diện trước Trưởng lão Sariputta. Về phần mình, ông đã dọn dẹp khu nhà ở của mình và quét nơi ông thường ngụ trong ngày. Sau đó, đứng ở cổng, ông nhìn lại nơi này, suy nghĩ: "Đây là hình ảnh cuối cùng của ta về nó. Sẽ không còn quay lại nữa."

Rồi, cùng với năm trăm tỳ khưu ông đi đến gặp Thế Tôn, chào ngài và nói: "Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn cho phép, xin Đức Tối Thắng Tôn tán thành: thời điểm của sự qua đời lần cuối cùng của con đã đến, con đã từ bỏ sinh lực.

Lord of the World, O greatest Sage!
From life I soon shall be released.
Going and coming no more shall be;
This is the last time that I worship thee.

Short is the life that now remains to me;
But seven days from now, and I shall lay
This body down, throwing the burden off.

Grant it, O Master! Give permission, Lord!
At last for me Nibbana's time has come,
Relinquished have I now the will to live."

"Bạch Thế Tôn, bậc Thánh hiền vĩ đại nhất!
Con sẽ sớm giã từ đời sống.
Sẽ không đi và đến nữa;
Đây là lần cuối cùng con tôn thờ ngài.

Cuộc sống ngắn ngủi bây giờ vẫn còn với con;
Nhưng bảy ngày nữa, và con sẽ đặt
Thân xác này xuống, quẳng gánh nặng đi.

Xin nhận lời, thưa Tôn Sư! Hảy cho phép, bạch Thế Tôn!
Cuối cùng thời điểm của Niết bàn đã đến với con,
Con giờ đây đã từ bỏ ý muốn sống."

Now, says the text, if the enlightened One were to have replied, "You may have your final passing away," hostile sectarians would say that he was speaking in praise of death; and if he had replied, "Do not have your final passing away," they would say that he extolled the continuation of the round of existence. Therefore the Blessed One did not speak in either way, but asked: "Where will your final passing away take place?"

The Venerable Sariputta replied: "In the Magadha country, in the village called Nalaka, there in the chamber of my birth shall I finally pass away."

Then the Blessed One said: "Do, Sariputta, what you think timely. But now your elder and younger brethren in the Sangha will no longer have the chance to see a bhikkhu like you. Give them once more a discourse on Dhamma."

Bây giờ giả sử văn bản nói, nếu Đấng Giác ngộ trả lời, "Thầy có thể có sự qua đời lần cuối cùng," các giáo phái thù địch sẽ nói rằng ngài đang nói lời tán dương cái chết; và nếu ngài trả lời, "Thầy đừng có sự qua đời lần cuối cùng," họ sẽ nói rằng ngài hoan nghênh sự tiếp tục của luân hồi sinh tử. Vì vậy Đức Phật đã không nói theo cách nào cả, nhưng hỏi: "Sự viên tịch lần cuối cùng của thầy sẽ diễn ra ở đâu?"

Tôn giả Sariputta trả lời: "Tại xứ Magadha, trong ngôi làng tên là Nalaka, ở đó con sẽ trút hơi thở cuối cùng trong căn phòng nơi con sinh ra."

Rồi Đức Phật nói: "Sariputta, hảy làm những gì mà thầy nghĩ là đúng thời điểm. Nhưng bây giờ các huynh đệ của thầy trong Tăng Đoàn sẽ không còn cơ hội gặp một tỳ khưu như thầy. Hảy ban cho họ một bài thuyết giảng về Pháp lần nữa."

The great Elder then gave a discourse, displaying all his descending to mundane truth, rising again, and again descending, he expounded the Dhamma directly and in symbols. And when he had ended his discourse he paid homage at the feet of the Master. embracing his legs, he said: "So that I might worship these feet I have fulfilled the Perfections throughout an aeon and a hundred thousand kalpas. My heart's wish has found fulfillment. From now on there will be no more contact or meeting; severed now is that intimate connection. The City of Nibbana, the unaging, undying, peaceful, blissful, heat-assuaging and secure, which has been entered by many hundreds of thousands of Buddhas — I too shall enter it now.

"If any deed or word of mine did not please you, O Lord, may the Blessed One forgive me! It is now time for me to go."

Now once before, the Buddha had answered this, when he said: "There is nothing, be it in deeds or words, wherein I should have to reproach you, Sariputta. For you are learned, Sariputta, of great wisdom, of broad and bright, quick, keen and penetrative wisdom."[45]

Sau đó Đại Trưởng lão cho một bài thuyết giảng, thể hiện tất cả xuống đến chân lý thế tục, rồi lại đi lên, và lại đi xuống, ông giải nghĩa Pháp một cách trực tiếp và bằng biểu tượng. Và khi ông kết thúc bài thuyết giảng, ông đảnh lễ dưới chân Tôn Sư. Ôm chân ngài, ông nói: "Để có thể tôn thờ đôi chân này, con đã hoàn thành sự Toàn mỹ qua một thiên niên kỷ và một trăm ngàn kiếp. Tâm nguyện của trái tim con đã được thực hiện. Từ nay sẽ không còn liên lạc hay gặp gỡ; mối liên hệ mật thiết đó bây giờ bị cắt đứt. Cõi Niết bàn, nơi không già, không chết, bình an, cực lạc, mát mẻ và an toàn, đã được hàng trăm ngàn vị Phật bước vào — con cũng sẽ bước vào đó bây giờ.

Nếu bất kỳ hành động hay lời nói nào của con không làm hài lòng ngài, bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn tha thứ cho con! Bây giờ là lúc con phải ra đi."

Như trước, Đức Phật đã trả lời điều này, khi ngài nói: "Sariputta, không có gì cả, dù là trong hành động hay lời nói, mà tôi phải trách mắng thầy. Này Sariputta, vì thầy đã học được trí tuệ tuyệt vời, trí tuệ sâu rộng và sáng suốt, nhanh chóng, sắc sảo và xuyên thấu."[45]

So now he made answer in the same way: "I forgive you, Sariputta," he said. "But there was not a single word or deed of yours that was displeasing to me. Do now, Sariputta, what you think timely."

From this we see that on those few occasions when the Master seemed to reproach his Chief Disciple, it was not that he was displeased with him in any way, but rather that he was pointing out another approach to a situation, another way of viewing a problem.

Immediately after the master had given his permission and the Venerable Sariputta had risen from paying homage at his feet, the Great Earth cried out, and with a single huge tremor shook to its watery boundaries. It was as though the Great Earth wished to say: "Though I bear these girdling mountain ranges with Mount Meru, the encircling mountain walls (cakkavala) and the Himavant, I cannot sustain on this day so vast an accumulation of virtue!" And mighty thunder split the heavens, a vast cloud appeared and heavy rain poured down.

Vì vậy bây giờ ngài trả lời theo cùng một cách: "Tôi sẽ tha thứ cho thầy, Sarputta," ngài nói. "Nhưng không có một lời nói hay hành động nào của thầy làm tôi không hài lòng. Hảy làm ngay bây giờ những gì thầy nghĩ là đúng thời điểm."

Từ điều này chúng ta thấy rằng trong vài lần khi Tôn Sư có vẻ khiển trách Trưởng Đệ tử của ngài, không phải là ngài không hài lòng với ông theo bất kỳ cách nào, mà là ngài đang chỉ ra một phương thức khác cho một tình huống, một cách khác để xem xét vấn đề.

Ngay sau khi đạo sư cho phép và Tôn giả Sariputta đứng dậy sau khi đảnh lễ dưới chân ngài, Đại Địa la hét, gây chấn động lớn làm rung chuyển biển hồ của nó. Như thể Đại Địa muốn nói: Mặc dù tôi gồng gánh những rặng núi bao quanh với Núi Meru, những tường thành núi bao bọc (cakkavala) và rặng Himalayas, ngày hôm nay tôi không thể chịu đựng được một tích lũy đức hạnh rộng lớn như vậy!" Và sấm sét dữ dội chia cắt bầu trời, một đám mây khổng lồ xuất hiện và mưa ào ạt đổ xuống.

Then the Blessed One thought: "I shall now permit the Marshal of the Law to depart." and he rose from the seat of the Law, went to his Perfumed Cell and there stood on the Jewel Slab. Three times the Venerable Sariputta circumambulated the cell, keeping it to his right, and paid reverence at four places. And this thought was in his mind: "an aeon and a hundred thousand kalpas ago it was, when I fell down at the feet of the Buddha Anomadassi and made the aspiration to see you. This aspiration has been realized, and I have seen you. At the first meeting it was my first sight of you; now it is my last, and there will be none in the future." And with raised hands joined in salutation he departed, going backwards until the Blessed One was out of sight. And yet again the Great Earth, unable to bear it, trembled to its watery boundaries.

The Blessed One then addressed the bhikkhus who surrounded him. "Go, bhikkhus," he said. "Accompany your elder brother." At these words, all the four assemblies of devotees at once went out of the Jeta Grove, leaving the Blessed One there alone. The citizens of Savatthi also, having heard the news, went out of the city in an unending stream carrying incense and flowers in their hands; and with their hair wet (the sign of mourning), they followed the Elder lamenting and weeping.

Thế rồi Đức Thế Tôn nghĩ: "Nay ta sẽ cho phép Nguyên soái của Pháp ra đi." và ngài đứng lên từ chỗ ngồi của Pháp, đi đến Hương Tịnh xá của ngài và đứng trên Thạch Bảo. Tôn giả Sariputta đi vòng quanh tịnh xá ba lần, giữ ở bên phải của mình, và đảnh lễ ở bốn nơi. Và ý nghĩ này đã xuất hiện trong tâm ông: "một thiên niên kỷ và một trăm ngàn kiếp trước, khi con quỳ dưới chân Đức Phật Anomadassi và lập thệ nguyện được gặp ngài. Thệ nguyện này đã được thực hiện, và con đã nhìn thấy ngài. Ngay lần gặp gỡ đầu tiên, đó là cái nhìn đầu tiên của con về ngài; bây giờ là lần cuối cùng của con, và sẽ không có trong tương lai." Và với hai tay giơ lên chắp lại chào, ông giã từ, đi thụt lùi cho đến khi Đức Thế Tôn khuất bóng. Và một lần nữa Đại Địa không thể chịu đựng được, chấn động làm rung chuyển biển hồ của nó.

Sau đó Đức Thế Tôn nói với chư tỳ khưu đang vây quanh ngài. "Hảy đi, chư tỳ khưu," ngài nói. Hảy đi theo huynh trưởng của các thầy." Sau lời nói này, tất cả tứ chúng đệ tử ngay lập tức rời khỏi Kỳ Đà Viên, để lại một mình Đức Thế Tôn ở đó. Dân chúng của thành Savatthi cũng nghe được tin, lũ lượt đi ra khỏi thành phố mang theo hương hoa trên tay; và với mái tóc ướt (dấu hiệu của sự thương tiếc), họ đi theo Trưởng lão, than thở và khóc lóc.

The Venerable Sariputta then admonished the crowd, saying: "This is a road that none can avoid," and asked them to return. And to the monks who had accompanied him, he said: "You may turn back now! Do not neglect the Master!"

Thus he made them go back, and with only his own group of disciples, he continued on his way. Yet still some of the people followed him, lamenting. "Formerly our Venerable went on journeys and returned. But this is a journey without return!" To them the Elder said: "Be heedful, friends! Of such nature, indeed, are all things that are formed and conditioned!" And he made them turn back.

During his journey the Venerable Sariputta spent one night wherever he stopped, and thus for one week he favored many people with a last sight of him. Reaching Nalaka village in the evening, he stopped near a banyan tree at the village gate. It happened that at the time a nephew of the elder, Uparevata by name, had gone outside the village and there he saw the Venerable Sariputta. He approached the elder, saluted him, and remained standing.

Tôn giả Sariputta liền khuyên nhủ đám đông rằng: "Đây là con đường không ai có thể tránh khỏi", và yêu cầu họ quay trở lại. Và quay sang các sư đi theo ông, ông nói: "Các thầy có thể quay trở lại ngay bây giờ! Đừng bỏ bê Tôn Sư!"

Như thê,́ ông đã khiến họ quay trở lại, và chỉ với nhóm đệ tử của mình, ông tiếp tục lên đường. Tuy nhiên vẫn có vài người đi theo ông, than thở. "Trước kia Tôn giả của chúng ta đi du hành và trở về. Nhưng đây là một cuộc hành trình không trở về!" Trưởng lão nói với họ: "Này các bạn, hảy chánh niệm! Thiên nhiên là như vậy, quả thực tất cả mọi thứ được hình thành và do duyên khởi!" Và ông làm cho họ quay trở lại.

Trong suốt cuộc hành trình, Tôn giả Sariputta nghỉ qua đêm ở bất cứ nơi nào ông dừng bước, và như vậy là ông đã ưu ái cho nhiều người được nhìn thấy ông lần cuối. Đến làng Nalaka vào buổi tối, ông dừng bước gần một cây đa ở cổng làng. Tình cờ vào lúc đó một người cháu trai của trưởng lão, tên là Uparevata, đi ra ngoài làng và nhìn thấy Tôn giả Sariputta. Anh đến gần trưởng lão, chào ông, và đứng đó.

The Elder asked him: "Is your grand-aunt at home?" "Yes, venerable sir," he replied. "Then go and announce our coming," said the Elder. "And if she asks why I have come, tell her that I shall stay in the village for one day, and ask her to prepare my birth chamber and provide lodgings for five hundred bhikkhus."

Uparevata went to his grand-aunt and said: "Grandaunt, my uncle has come."

"Where is he now?" she asked.

"At the village gate."

"Is he alone, or has someone else come with him?"

"He has come with five hundred bhikkhus."

Trưởng lão hỏi anh: "Bà dì của con có nhà không?" "Thưa Tôn giả có", anh trả lời. "Vậy hảy đi thông báo việc chúng ta sắp đến," Trưởng lão nói. "Và nếu bà hỏi tại sao ta đến, nói với bà rằng ta sẽ ở lại làng một ngày, và yêu cầu bà chuẩn bị phòng nơi ta sinh ra và cung cấp chỗ ở cho năm trăm vị tỳ khưu."

Uparevata đến gặp bà dì của mình và nói: "Bà dì ơi, chú con đã đến."

"Hiện giờ ông ấy ở đâu?" bà hỏi.

"Ở cổng làng."

"Ông đi một mình, hay có ai khác đi cùng?"

"Ông đến với năm trăm vị tỳ khưu."

And when she asked him, "Why has he come?" he gave her the message the elder had entrusted to him. Then she thought: "Why does he ask me to provide lodgings for so many? After becoming a monk in his youth, does he want to be a layman again in his old age?" But she arranged the birth chamber for the Elder and lodgings for the bhikkhus, had torches lit and then sent for the Elder.

The Venerable Sariputta then, accompanied by the bhikkhus, went up to the terrace of the house and entered his birth chamber. After seating himself, he asked the bhikkhus to go to their quarters. They had hardly left, when a grave illness, dysentery, fell upon the Elder, and he felt severe pains. When one pail was brought in, another was carried out. The brahman lady thought: "The news of my son is not good," and she stood leaning by the door of her own room.

And then it happened, the text tells us, that the Four Great Divine Kings asked themselves: "Where may he now be dwelling, the Marshal of the Law?" And they perceived that he was at Nalaka, in his birth chamber, lying on the bed of his Final Passing Away. "Let us go for a last sight of him," they said.

Và khi bà hỏi anh, "Tại sao ông ấy đến?" anh trao cho bà thông điệp mà trưởng lão đã ủy thác cho anh. Thế rồi bà suy nghĩ: "Tại sao ông ấy lại yêu cầu mình cung cấp chỗ ở cho nhiều người như vậy? Sau khi trở thành một nhà sư khi còn trẻ, ông ấy muốn trở lại làm cư sĩ khi về già ư?" Nhưng bà vẫn sắp xếp phòng nơi ông sinh ra cho Trưởng lão và chỗ ở cho các vị tỳ khưu, thắp đèn và sau đó cho mời Trưởng lão về.

Thế rồi Tôn giả Sariputta cùng chư tỳ khưu đi đến sân nhà và bước vào phòng nơi ông sinh ra đời. Sau khi ngồi xuống, ông yêu cầu chư tỳ khưu đi về khu nhà của họ. Họ chưa kịp rời đi thì một căn bệnh hiểm nghèo, bệnh kiết lỵ, ập đến với Trưởng lão, và ông cảm thấy đau dữ dội. Khi một cái thùng được mang vào thì một thùng khác được mang đi. Người phụ nữ bà-la-môn nghĩ: "Tin tức về con trai ta là không tốt," và bà đứng dựa vào cửa phòng của mình.

Và điều đó đã xảy ra, văn bản cho chúng ta biết rằng Tứ Đại Thiên Vương tự hỏi: "Ngài hiện đang ở đâu, Nguyên soái của Pháp?" Và họ nhận ra rằng ông ở Nalaka, trong phòng sinh của ông, nằm trên giường cho cuộc Qua đời Cuối cùng của ông. "Chúng ta hảy đến gặp ngài lần cuối," họ nói.

When they reached the birth chamber, they saluted the Elder and remained standing.

"Who are you?" asked the Elder.

"We are the Great Divine Kings, venerable sir."

"Why have you come?"

"We want to attend on you during your illness."

"Let it be!" said the Venerable Sariputta. "There is an attendant here. You may go."

Khi họ đến phòng sinh, họ chào Trưởng lão và đứng yên.

"Quý vị là ai?" Trưởng lão hỏi.

"Thưa ngài, chúng tôi là Đại Thiên Vương."

"Tại sao quý vị đến?"

"Chúng tôi muốn chăm sóc ngài trong thời gian ngài bị bệnh."

"Không cần đâu!" Tôn giả Sariputta nói. "Có một thị giả ở đây rồi. Quý vị có thể đi."

When they had left, there came in the same manner Sakka the king of the gods, and after him, Maha Brahma, and all of them the elder dismissed in the same way.

The brahman lady, seeing the coming and going of these deities, asked herself: "Who could they have been, who came and paid homage to my son, and then left?" And she went to the door of the elder's room and asked the Venerable Cunda for news about the Elder's condition. Cunda conveyed the inquiry to the Elder, telling him: "The Great Upasika (lay devotee) has come."

The Venerable Sariputta asked her: "Why have you come at this unusual hour?"

"To see you, dear," she replied. "Tell me, who were those who came first?"

Khi họ đi khỏi, thì chuyện tương tự xảy ra với vua trời Sakka, và sau ông ấy là Maha Brahma, và trưởng lão để họ đi khỏi theo cùng một cách.

Người phụ nữ ba-la-môn nhìn thấy việc đến và đi của các vị thần này, bà tự hỏi: "Họ có thể là ai, họ đến và đảnh lễ con trai mình, và sau đó rời đi?" Và bà đi đến cửa phòng của trưởng lão và hỏi Tôn giả Cunda về bệnh tình của Trưởng lão. Cunda thông báo lời thăm hỏi cho Trưởng lão, nói với ông rằng: "Đại Tín nữ (cư sĩ) đã đến."

Tôn giả Sariputta hỏi bà: "Tại sao mẹ đến vào giờ này?"

"Để gặp con," bà trả lời. "Nói cho mẹ biết, những người đến đầu tiên là ai?"

"The Four Great Divine Kings, upasika."

"Are you, then, greater than they?" she asked.

"They are like temple attendants," said the Elder. "Ever since our Master took rebirth they have stood guard over him with swords in hand."

"After they had left, who was it that came then, dear?"

"It was Sakka the king of the gods."

"Are you then, greater than the king of gods, dear?"

"Đó là Tứ Đại Thiên Vương, thưa tín nữ."

"Vậy con có lớn hơn họ không?" bà hỏi.

"Họ giống như người giữ đền thờ," Trưởng lão nói. "Kể từ khi Tôn Sư của chúng tôi tái sinh, họ đã đứng bảo vệ ngài với thanh kiếm trong tay."

"Khi họ đi khỏi, ai đã đến sau đó, hở con?"

"Đó là Sakka, vua của chư thiên."

"Vậy con có lớn hơn vua của chư thiên không?"

"He is like a novice who carries a bhikkhu's belongings," answered Sariputta. "When our Master returned from the heaven of the Thirty-three (Tavatimsa), Sakka took his bowl and robe and descended to earth together with him."

"And when Sakka had gone, who was it that came after him, filling the room with his radiance?"

"Upasika, that was your own Lord and Master, the Great Brahma."

"Then are you greater, my son, even than my Lord, the Great Brahma?"

"Yes, Upasika. On the day when our Master was born, it is said that four Great Brahmas received the Great Being in a golden net."

Ông ấy giống như một sa di mang đồ đạc của vị tỳ khưu," Sariputta trả lời. Khi Tôn Sư của chúng tôi trở về từ cõi Trời Đao Lợi (Tavatimsa), Sakka mang theo y bát của ngài và cùng ngài xuống trần gian."

"Và khi Sakka đi khỏi, ai đã đến sau đó, tỏa hào quang khắp phòng?"

"Thưa tín nữ, đó là Thượng đế và Đạo sư của bà, Đại Phạm Thiên."

Vậy con có lớn hơn không, thậm chí hơn cả Thượng đế của tôi, Đại Phạm Thiên?"

"Vâng, thưa tín nữ. Vào ngày Tôn Sư của tôi sinh ra, người ta nói rằng bốn vị Đại Phạm Thiên đón nhận Đấng Vĩ Đại trong tấm lưới vàng."

Upon hearing this, the brahman lady thought: "If my son's power is such as this, what must be the majestic power of my son's Master and Lord?" And while she was thinking this, suddenly the fivefold rapture arose in her, suffusing her entire body.

The Elder thought: "Rapture and joy have arisen in my mother. Now is the time to preach the Dhamma to her." And he said: "What was it you were thinking about, upasika?"

"I was thinking," she replied, "if my son has such virtue, what must be the virtue of his Master?"

The Venerable Sariputta answered: "At the moment of my Master's birth, at his Great Renunciation (of worldly life), on his attaining Enlightenment and at his first turning of the Dhamma Wheel — on all these occasions the ten thousand world-system quaked and shook. None is there who equals him in virtue, in concentration, in wisdom, in deliverance, and in the knowledge and vision of deliverance." And he then explained to her in detail the words of homage: "Such indeed is that Blessed One..." (Iti pi so Bhagava...). And thus he gave her an exposition of the Dhamma, basing it on the virtues of the Buddha.

Khi nghe điều này, người phụ nữ bà-la-môn nghĩ: "Nếu năng lực của con trai mình mạnh như vậy, thì năng lực hùng vĩ của Tôn Sư và Thế Tôn của con trai mình là gì? Và trong khi bà suy nghĩ điều này, đột nhiên cảm giác vui sướng tột bực nảy sinh trong bà, tràn ngập khắp thân bà.

Trưởng lão nghĩ: "Niềm hân hoan và vui sướng đã nảy sinh trong mẹ của ta. Bây giờ là lúc để thuyết giảng Pháp cho bà." Và ông nói: "Tín nữ đang nghĩ gì vậy?"

Bà trả lời: "Tôi đang nghĩ nếu con trai tôi có đức hạnh như vậy, thì đức hạnh của Tôn Sư của ông phải là gì?"

Tôn giả Sariputta trả lời: "Vào dịp đản sinh của Tôn Sư tôi, vào dịp Xuất gia Vĩ đại (từ bỏ đời sống trần tục) của ngài, khi ngài đạt được Giác Ngộ và lần chuyển Pháp Luân đầu tiên của ngài — trong tất cả những dịp này mười ngàn thế giới chấn động và rung chuyển. Không có ai sánh bằng ngài về đức hạnh, thiền định, trí tuệ, giải thoát, và kiến thức và tầm nhìn về sự giải thoát." Rồi ông giải thích cặn kẽ cho bà biết lời bày tỏ sự tôn kính: "Quả thật là Đức Thế Tôn ..." (Iti pi so Bhagava...). Và như vậy ông đã ban cho bà một giáo trình về Pháp, dựa trên những đức hạnh của Đức Phật.

When the Dhamma talk given by her beloved son had come to an end, the brahman lady was firmly established in the Fruition of stream-entry, and she said: "Oh, my dear Upatissa, why did you act like that? Why, during all these years, did you not bestow on me this ambrosia (the knowledge of the Deathless)?"

The Elder thought: "Now I have given my mother, the brahman lady Rupa-Sari, the nursing-fee for bringing me up. This should suffice." and he dismissed her with the words: "You may go now, upasika."

When she was gone, he asked: "What is the time now, Cunda?"

"Venerable sir, it is early dawn."

And the Elder said: "Let the community of bhikkhus assemble."

Khi bài thuyết Pháp do con trai yêu quý của bà nói kết thúc, người phụ nữ bà-la-môn đã vững vàng trong quả vị Nhập lưu, và bà nói: "Ôi Tín nữ thân mến, tại sao bà lại hành động như vậy? Tại sao suốt bao năm qua, bà không ban cho tôi món ăn tinh thần quí báu này (kiến thức về Bất tử)?"

Trưởng lão nghĩ: "Bây giờ ta đã đưa cho mẹ ta, phụ nữ bà-la-môn Rupa-Sari, dưỡng phí cho việc nuôi dưỡng ta. Như vậy là đủ rồi." Và ông tiễn bà với lời nói: "Bà có thể đi bây giờ, tín nữ."

Khi bà đi rồi, ông hỏi: "Bây giờ là mấy giờ, Cunda?"

"Thưa Tôn giả, trời mới rạng đông."

Và Trưởng lão nói: "Hảy tập hợp chư tỳ khưu lại."

When the bhikkhus had assembled, he said to Cunda: "Lift me up to a sitting position, Cunda." And Cunda did so.

Then the Elder spoke to the bhikkhus, saying: "For forty-four years I have lived and traveled with you, my brethren. If any deed or word of mine was unpleasant to you, forgive me, brethren."

And they replied: "Venerable sir, not the least displeasure has ever come from you to us, who followed you inseparably like your shadow. But may you, venerable sir, grant forgiveness to us!"

After that the Elder gathered his large robe around him, covered his face and lay down on his right side. Then, just as the Master was to do at his Maha Parinibbana, he entered into the nine successive attainments of meditation, in forward and reverse order, and beginning again with the first absorption he led his meditation up to the fourth absorption. And at the moment after he had entered it, just as the crest of the rising sun appeared over the horizon, he utterly passed away into the Nibbana-element which is without any remnant of clinging.

Khi chư tỳ khưu tập hợp lại, ông nói với Cunda: "Hảy đở tôi ngồi lên, Cunda." Và Cunda làm như vậy.

Rồi Trưởng lão nói với chư tỳ khưu: "Hởi chư huynh đệ, trong bốn mươi bốn năm tôi đã cùng sống và du hành với các thầy. Nếu có hành động hay lời nói nào của tôi làm các thầy bất mãn, xin chư huynh đệ tha thứ cho tôi."

Và họ trả lời: Thưa Tôn giả, chúng con vốn đi theo ngài không thể tách rời như hình với bóng, không hề có bất kỳ sự bất mãn nào đối với ngài. Nhưng, thưa Tôn giả, xin ngài tha thứ cho chúng con!"

Sau đó Trưởng lão quấn chiếc áo choàng lớn quanh người, che mặt và nằm xuống nghiêng về bên phải. Thế rồi, giống như Tôn Sư làm khi ngài nhập Đại Niết Bàn, ông bước vào chín lần chứng đắc thiền định liên tiếp, theo thứ tự thuận và nghịch, và bắt đầu lại với tầng thiền thứ nhất ông dẫn thiền định của mình lên tới tầng thiền thứ tư. Và vào khoảnh khắc sau khi ông nhập vào nó, ngay khi đỉnh mặt trời mọc xuất hiện ở phía chân trời, ông đã hoàn toàn viên tịch vào cõi Niết Bàn không còn lưu luyến nào.

And it was the full-moon day of the month Kattika, which by the solar calendar is between October and November.

The brahman lady in her room thought: "How is my son? he does not say anything." She rose, and going into the Elder's room she massaged his legs. Then, seeing that he had passed away, she fell at his feet, loudly lamenting; "O my dear son! Before this, we did not know of your virtue. Because of that, we did not gain the good fortune to have seated in this house, and to feed, many a hundred bhikkhus! We did not gain the good fortune to have built many monasteries!" And she lamented thus up to sunrise.

As soon as the sun was up, she sent for goldsmiths and had the treasure room opened and had the pots full of gold weighed on a large scale. Then she gave the gold to the goldsmiths with the order to prepare funeral ornaments. Columns and arches were erected, and in the center of the village the upasika had a pavilion of heart-wood built. In the middle of the pavilion a large, gabled structure was raised, surrounded by a parapet wall of golden arches and columns. Then they began the sacred ceremony, in which men and deities mingled.

Và đó là ngày trăng tròn của tháng Kattika, mà theo dương lịch là giữa tháng 10 và tháng 11.

Người phụ nữ bà-la-môn ở trong phòng bà suy nghĩ: "Con trai mình thế nào rồi? Nó không nói gì cả." Bà đứng dậy và đi vào phòng Trưởng lão, thoa bóp chân cho ông. Thế rồi, nhìn thấy ông đã qua đời, bà ngã xuống chân ông, lớn tiếng than khóc: "Ôi con trai yêu dấu của tôi! Trước đây, chúng tôi đã không biết đến đức hạnh của con. Vì vậy, chúng tôi đã không có được phước lành đến ngự trị trong ngôi nhà này, và để nuôi sống hàng trăm vị tỳ khưu! Chúng tôi đã không có được phước lành để xây nhiều tu viện!" Và bà than khóc như thế cho đến khi mặt trời mọc lên cao.

Ngay khi mặt trời lên, bà cho gọi thợ kim hoàn và mở cửa kho báu và lấy vàng chất đầy các bình chứa. Sau đó bà đưa vàng cho người thợ kim hoàn và ra lệnh chuẩn bị đồ trang trí cho đám tang. Các cột và mái vòm được dựng lên, và ở trung tâm ngôi làng, vị tín nữ xây dựng một gian nhà bằng gỗ tâm. Ở giữa gian nhà, một kiến trúc lớn có đầu hồi được dựng lên, bao quanh bởi bức tường lan can với những mái vòm và cột bằng vàng. Sau đó họ bắt đầu nghi lễ linh thiêng, trong đó người và các vị thần linh xen lẫn nhau.

After the great assembly of people had celebrated the sacred rites for a full week, they made a pyre with many kinds of fragrant woods. They placed the body of the Venerable Sariputta on the pyre and kindled the wood with bundles of Usira roots. Throughout the night of the cremation the concourse listened to sermons on the Dhamma. After that the flames of the pyre were extinguished by the Elder Anuruddha with scented water. The Elder Cunda gathered together the relics and placed them in a filter cloth.

Then the Elder Cunda thought: "I cannot tarry here any longer. I must tell the Fully Enlightened One of the final passing away of my elder brother, the Venerable Sariputta, the Marshal of the Law." So he took the filter cloth with the relics, and the Venerable Sariputta's almsbowl and robes, and went to Savatthi, spending only one night at each stage of the journey.

These are the events released in the Commentary to the Cunda Sutta of the Satipatthana Samyutta, with additions from the parallel version in the Commentary to the Maha-parinibbana Sutta. The narrative is taken up in the Cunda Sutta which follows.

Sau khi đại chúng cử hành nghi lễ linh thiêng trọn một tuần, họ làm một giàn thiêu bằng nhiều loại gỗ thơm. Họ đặt thi hài của Tôn giả Sariputta lên giàn thiêu và đốt cháy gỗ bằng những bó rễ cây Urisa. Suốt đêm hỏa táng đại chúng lắng nghe các bài thuyết giảng về Pháp. Sau đó ngọn lửa của giàn thiêu được dập tắt bởi Trưởng lão Anurudha bằng nước thơm. Trưởng lão Cunda gom xá lợi lại và đặt chúng vào một tấm vải lọc.

Sau đó Trưởng lão Cunda nghĩ: "Ta không thể nán lại đây lâu hơn nữa. Ta phải nói với Đấng Toàn Giác về sự qua đời lần cuối cùng của huynh trưởng, Tôn giả Sariputta, Nguyên soái của Pháp." Vì vậy ông mang tấm vải lọc đựng xá lợi, và y bát của Tôn giả Sariputta, và đi Savatthi, chỉ nghỉ đêm ở từng chặng của cuộc hành trình.

Đây là những sự kiện được tường thuật trong Chú giải cho Kinh Cunda - Cunda Sutta của Tương Ưng Bộ Kinh, với những bổ sung từ phiên bản tương tự trong Chú giải cho Maha-parinibbana Sutta. Câu chuyện được kể lại trong Cunda Sutta dưới đây.


Cunda Sutta  [46]

Once the Blessed One was dwelling at Savatthi, in Anathapindika's park. At that time the Venerable Sariputta was at Nalaka village in the Magadha country, and was sick, suffering, gravely ill. The Novice Cunda[47] was his attendant.

And the Venerable Sariputta passed away finally through that very illness. Then the Novice Cunda took the almsbowl and robes of the Venerable Sariputta and went to Savatthi, to the Jeta Grove, Anathapindika's park. There he betook himself to the Venerable Ananda and, having saluted him, seated himself at one side. Thus seated, he spoke to the Venerable Ananda saying: "Venerable sir, the Venerable Sariputta has had his final passing away. These are his bowl and robes."

"On this matter, Cunda, we ought to see the Blessed One. Let us go, friend Cunda, and meet the Master. Having met him, we shall acquaint the Blessed One with that fact."

"Yes, Venerable sir," said the Novice Cunda.


Kinh Cunda  [46]

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn của ông Cấp Cô Độc. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sariputta trú ở Magadha, tại làng Nalaka, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Và Sa-di Cunda là thị giả của Tôn giả Sariputta.

Tôn giả nhập Niết-bàn vì bệnh ấy. Rồi Sa-di Cunda cầm lấy y bát của Tôn giả Sàriputta đi đến Savatthi, Thắng Lâm, tại khu vườn của ông Cấp Cô Độc, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Sa-di Cunda nói với Tôn giả Ananda:
Thưa Tôn giả, Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung. Đây là y bát của vị ấy.

Này Hiền giả Cunda, đây là lý do để đến yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy báo tin này cho Thế Tôn.

Thưa vâng, Tôn giả". Sa-di Cunda đáp lời Tôn giả Ananda

They went to see the Blessed One, and having arrived there and saluted the Master, they seated themselves at one side. Then the Venerable Ananda addressed the Blessed One:

"O Lord, the Novice Cunda has told me this: 'The Venerable Sariputta has had his final passing away. These are his bowl and robes.' Then, O Lord, my own body became weak as a creeper; everything around became dim and things were no longer clear to me, when I heard about the final passing away of the Venerable Sariputta."

"How is this, Ananda? When Sariputta had his final passing away, did he take from you your portion of virtue, or your portion of concentration, or your portion of the knowledge and vision of deliverance?"

"Not so, Lord. When the Venerable Sariputta had his final passing away he did not take my portion of virtue... concentration... wisdom... deliverance, or my portion of the knowledge and vision of deliverance. But O Lord, the Venerable Sariputta has been to me a mentor, teacher, and instructor, one who rouses, inspires and gladdens, untiring in preaching Dhamma, a helper of his fellow monks. And we remember how vitalizing, enjoyable and helpful his Dhamma instruction was."

Rồi Tôn giả Ananda và Sa-di Cunda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế rồi Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn: - Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda này thưa như sau: "Bạch Tôn giả, Tôn giả Sariputta đã mệnh chung. Đây là y và bát của vị ấy. Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy (bàng hoàng) (madhurakajato). Các phương hướng không hiện ra rõ ràng đối với con. Pháp sẽ không được giảng cho con, khi con nghe tin Tôn giả Sariputta đã mệnh chung."

"Này Ananda, Sariputta có đem theo giới uẩn khi mệnh chung? Có đem theo định uẩn khi mệnh chung? Có đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung không?"

"Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sariputta không đem theo giới uẩn khi mệnh chung, không đem theo định uẩn khi mệnh chung, không đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung. Nhưng bạch Thế Tôn, Tôn giả Sariputta là vị giáo giới cho con, là vị đã vượt qua (bộc lưu), là bậc giáo thọ, là vị khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, là vị thuyết pháp không biết mệt mỏi, là vị hộ trì cho các đồng Phạm hạnh. Chúng con đều ức niệm rằng Tôn giả Sariputta là tinh hoa của pháp (dhammojam), là tài sản của pháp (dhammabhogam), là hộ trì của pháp."

"Have I not taught you aforetime, Ananda, that it is the nature of all things near and dear to us that we must suffer separation from them, and be severed from them? Of that which is born, come to being, put together, and so is subject to dissolution, how should it be said that it should not depart? That, indeed, is not possible. It is, Ananda, as though from a mighty hardwood tree a large branch should break off, so has Sariputta now had his final passing away from this great and sound community of bhikkhus. Indeed, Ananda, of that which is born, come to being, put together, and so is subject to dissolution, how should it be said that it should not depart? This, indeed, is not possible.

"Therefore, Ananda, be ye an island unto yourself, a refuge unto yourself, seeking no external refuge; with the Teaching as your island, the Teaching your refuge, seeking no other refuge."

"Này Ananda, có phải trước đây Ta đã từng tuyên bố với ông rằng mọi pháp khả ái, khả ý đều có tánh chất khác biệt, có tánh chất ly tán, có tánh chất đổi khác? Làm sao, này Ananda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong rằng cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không xảy ra.

"Ví như, này Ananda, từ một cây lớn mọc thẳng, có lõi cây, một cành cây lớn bị gãy đổ. Cũng vậy, này Ananda, từ nơi chúng Tỷ-kheo đứng thẳng, có lõi cây, Sariputta bị mệnh chung. Làm sao, này Ananda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không xảy ra.

Do vậy, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một điều gì khác. Này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác? Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này Ananda, Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác. Này Ananda, những ai hiện nay, hay sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.

Chuyển dịch từ Pali: HT. Thích Minh Châu

The Commentary takes up the narrative thus:

The Master stretched forth his hand, and taking the filter with the relics, placed it on his palm, and said to the monks:

"These, O monks, are the shell-colored relics of the bhikkhu who, not long ago, asked for permission to have his final passing away. He who fulfilled the Perfections for an incalculable aeon and a hundred thousand kalpas — this was that bhikkhu. He who obtained the seat next to me — this was that bhikkhu. He who, apart from me, had none to equal him in wisdom throughout the whole ten-thousandfold universe — this was that bhikkhu. Of great wisdom was this bhikkhu, of broad wisdom, bright wisdom, quick wisdom, of penetrative wisdom was this bhikkhu. Few wants had this bhikkhu; he was contented, bent on seclusion, not fond of company, full of energy, an exhorter of his fellow monks, censuring what is evil. He who went forth into homelessness, abandoning the great fortune obtained through his merits in five hundred existences — this was that bhikkhu. He who, in my Dispensation, was patient like the earth — this was that bhikkhu. Harmless like a bull whose horns had been cut — this was that bhikkhu. Of humble mind like a Candala boy — this was that bhikkhu.

"See here, O monks, the relics of him who was of great wisdom, of broad, bright, quick, keen and penetrative wisdom; who had few wants and was contented, bent on seclusion, not fond of company, energetic — see here the relics of him who was an exhorter of his fellow monks, who censured evil!"

Chú giải nói về câu chuyện như sau:

Tôn Sư đưa tay ra lấy túi lọc đựng chứa xá lợi, đặt vào lòng bàn tay, và nói với chư tăng:

"Này chư tăng, đây là ngọc xá lợi của vị tỳ khưu, mà trước đây không lâu, đã xin phép viên tịch lần cuối cùng. Ông đã hoàn thành sự Toàn mỹ qua hàng thiên niên kỷ và một trăm ngàn kiếp — đây là vị tỳ khưu đó. Ông có được chỗ ngồi bên cạnh ta — đây là vị tỳ khưu đó. Ông ấy, ngoài tôi ra, không có ai sánh bằng về trí tuệ trong suốt vạn thiên vũ trụ — đây là vị tỳ khưu đó. Vị tỳ khưu này có trí tuệ tuyệt vời, trí tuệ rộng lớn, sáng suốt, nhanh nhẹn, uyên thâm. Vị tỳ khưu này ít ham muốn; tri túc, sống ẩn dật, không thích hội họp, tràn đầy năng lực, khuyên nhủ chư tăng đồng liêu của mình, chỉ trích điều xấu. Ông xuất gia sống đời khổ hạnh, từ bỏ tài sản lớn có được nhờ công đức của mình trong năm trăm kiếp sống — đây là vị tỳ khưu đó. Ông ấy, trong Giáo hội Tăng đoàn của ta, kiên nhẫn như đất — đây là vị tỳ khưu đó. Vô hại như con trâu cụt sừng — đây là vị tỳ khưu đó. Tâm khiêm tốn như cậu bé Candala — đây là vị tỳ khưu đó.

"Hảy xem đây, này chư tăng, xá lợi của ông, người có trí tuệ tuyệt vời, trí tuệ rộng lớn, sáng suốt, nhanh nhẹn, nhạy bén và uyên thâm; người có ít ham muốn, tri túc, sống ẩn dật, không thích hội họp, tràn đầy năng lực — đây là xá lợi của ông, người khuyên nhủ chư tăng đồng liêu của mình, người chỉ trích điều xấu!"

Then the Buddha spoke the following verses in praise of his Great Disciple:

"To him who in five times a hundred lives
Went forth to homelessness, casting away
Pleasures the heart holds dear, from passion free,
With faculties controlled — now homage pay
To Sariputta who has passed away!

To him who, strong in patience like the earth,
Over his own mind had absolute sway,
Who was compassionate, kind, serenely cool,
And firm as earth withal — now homage pay
To Sariputta who has passed away!

Who, like an outcaste boy of humble mind,
Enters the town and slowly wends his way
From door to door with begging bowls in hand,
Such was this Sariputta — now homage pay
To Sariputta who has passed away!

One who in town or jungle, hurting none,
Lived like a bull whose horns are cut away,
Such was this Sariputta, who had won
Mastery of himself — now homage pay
To Sariputta who has passed away!"

Sau đó Đức Phật nói những câu thơ dưới đây để khen ngợi Đại Đệ tử của ngài:

"Người trong năm trăm kiếp
Xuất gia sống đời khổ hạnh, từ bỏ
Niềm vui mà trái tim nâng niu, không đam mê,
Với giác quan được kiểm soát — nào hảy đảnh lễ
Sariputta người đã viên tịch!

"Người mạnh mẽ trong sự kiên nhẫn như đất,
Hoàn toàn kiểm soát được tâm mình,
Người có lòng từ bi, tử tế, điềm tĩnh,
Và vững chắc như đất — nào hảy đảnh lễ
Sariputta người đã viên tịch!

Người, giống như cậu bé vô giai cấp có tâm khiêm tốn,
Vào thị trấn và chậm rãi bước đi
Từ nhà này qua nhà khác với bát khất thực trong tay,
Đó chính là Sariputta — nào hảy đảnh lễ
Sariputta người đã viên tịch!

Người dù ở thị trấn hay nơi hoang dã, không làm hại ai,
Sống như con trâu cụt sừng,
Đó chính là Sariputta, người đã dành được
Quyền làm chủ bản thân — nào hảy đảnh lễ
Sariputta người đã viên tịch!

* * *

When the Blessed One had thus lauded the virtues of the Venerable Sariputta, he asked for a stupa to be built for the relics.

After that, he indicated to the Elder Ananda his wish to go to Rajagaha. Ananda informed the monks, and the Blessed One, together with a large body of bhikkhus, journeyed to Rajagaha. At the time he arrived there, the Venerable Maha Moggallana had also had his final passing away. The Blessed One took his relics likewise, and had a stupa raised for them.

Then he departed from Rajagaha, and going by stages towards the Ganges, he reached Ukkacela. There he went to the bank of the Ganges, and seated with his following of monks he preached the Ukkacela Sutta, on the Parinibbana of Sariputta and Maha Moggallana.

* * *

Khi Đức Thế Tôn dứt lời ca ngợi đức hạnh của Tôn giả Sariputta, ngài yêu cầu xây một bảo tháp để cất giữ xá lợi.

Sau đó, ngài nói với Trưởng lão Ananda ý định đi Rajagaha. Ananda thông báo cho chư tăng, và Thế Tôn cùng với đông đảo tỳ khưu lên đường đi Rajagaha. Khi ngài đến đó thì Tôn giả Maha Moggallana cũng vừa viên tịch. Tương tự như vậy, Thế Tôn lấy xá lợi của ông, và cho xây bảo tháp để cất giữ xá lợi.

Rồi ngài lên đường đi Rajagaha, đi từng chặng về phía sông Hằng, ngài đến Ukkacela. Ở đó ngài đến bờ sông Hằng, an tọa cùng chư tăng và thuyết giảng kinh Ukkacela Sutta, về việc nhập Đại Niết Bàn của Sariputta và Maha Moggallana.


Ukkacela Sutta  [48]

Once the Blessed One was dwelling in the Vajji country, at Ukkacela on the bank of the river Ganges, not long after Sariputta and Maha Moggallana had passed away. And at that time the Blessed One was seated in the open, surrounded by company of monks.

The Blessed One surveyed the silent gathering of monks, and then spoke to them, saying:

"This assembly, O bhikkhus, appears indeed empty to me, now that Sariputta and Maha Moggallana have passed away. Not empty, for me, is an assembly, nor need I have concern for a place where Sariputta and Maha Moggallana dwell.

"Those who in the past have been Holy Ones. Fully enlightened Ones, those Blessed Ones, too, had such excellent pairs of disciples as I had in Sariputta and Maha Moggallana. Those who in the future will be Holy Ones, fully Enlightened Ones, those Blessed Ones too will have such excellent pairs of disciples as I had in Sariputta and Maha Moggallana.

"Marvelous it is, most wonderful it is, bhikkhus, concerning those disciples, that they will act in accordance with the Master's Dispensation, will act in according to his advice; that they will be dear to the four Assemblies, will be loved, respected and honored by them. Marvelous it is, most wonderful it is, bhikkhus, concerning the Perfect Ones, that when such a pair of disciples has passed away there is no grief, no lamentation on the part of the Perfect One.

For of that which is born, come to being, put together, and so is subject to dissolution, how should it be said that it should not depart? That indeed, is not possible."

"Therefore, bhikkhus, be ye an island unto yourselves, a refuge unto yourselves, seeking no external refuge; with the Teaching as your island, the Teaching your refuge, seeking no other refuge."

Kinh Ukkacela  [48]

Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Vajjii, tại Ukkacela, trên bờ sông Hằng, với đại chúng Tỷ-kheo, sau khi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Moggallana mệnh chung không bao lâu. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây.

Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo im lặng, liền nói với các Tỷ-kheo:

Này các Tỷ-kheo, chúng này của ta được xem hình như trống không. Nay Sariputta và Moggallana đã mệnh chung, này các Tỷ-kheo, chúng của ta thành trống không. Phương hướng nào Sariputta và Moggallana trú, phương hướng ấy không còn có ước vọng gì (anapekkha).

Này các Tỷ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ, các vị Thế Tôn ấy đã có một cặp đệ tử tối thắng như ta có Sariputta và Moggallana. Này các Tỷ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nào trong đời vị lai, những bậc Thế Tôn ấy sẽ có một cặp đệ tử tối thắng như ta có Sariputta và Moggallana.

Thật là vi diệu thay về các đệ tử, này các Tỷ-kheo! Thật hy hữu thay về các đệ tử, này các Tỷ-kheo! Họ thực hành những lời dạy của đức Bổn sư. Họ làm trách nhiệm giáo giới. Họ được bốn chúng ái kính, khả ý, khả kính, quý mến. Thật vi diệu thay, này các Tỷ-kheo, về Như Lai! Thật hy hữu thay, này các Tỷ-kheo, về Như Lai! Trong khi cặp đệ tử như vậy mệnh chung, Như Lai không có sầu buồn, hay không có than khóc.

Làm sao, này Ananda, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không xảy ra.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một điều gì khác.

Chuyển dịch từ Pali: HT. Thích Minh Châu

* * *

And with that profound and deeply moving exhortation, which echoes again and again through the Buddha's Teaching up to the time of his own final passing away, ends the story of the youth Upatissa who became the master's Chief Disciple, the beloved "Marshal of the Law." The Venerable Sariputta died on the full moon of the month Kattika, which begins in October and ends in November of the solar calendar. The death of Maha Moggallana followed a half-month later, on the Uposatha of the New Moon. Half a year later, according to tradition, came the Parinibbana of the Buddha himself.

Could such an auspicious combination of three great personages, so fruitful in blessings to gods and men, have been brought about purely by chance? We find the answer to that question in the Milinda-pañha[49] where Nagasena says:

"In many hundred thousands of births, too, sire, the Elder Sariputta was the Bodhisatta's father, grandfather, uncle, brother, son, nephew or friend."[50]

So the weary round of becoming, which linked them together in time, came at last to its end; time which is but the succession of fleeting events became for them the Timeless, and round of birth and death gave place to the Deathless. And in their final lives they kindled a glory that has illumined the world. Long may it continue to do so.

* * *

Và với lời di huấn sâu sắc và cảm động đó, vang vọng nhiều lần qua Giáo lý của Đức Phật cho đến khi ngài viên tịch, kết thúc câu chuyện về chàng trai trẻ Upatissa, người đã trở thành Trưởng Đệ tử của Tôn sư, "Nguyên soái kính yêu của Pháp". Tôn giả Sariputta viên tịch vào ngày trăng tròn của tháng Kattika, bắt đầu vào tháng 10 và kết thúc vào tháng 11 dương lịch. Tôn giả Maha Moggallana viên tịch nửa tháng sau đó, vào ngày Uposatha Trăng non. Nửa năm sau, theo truyền thuyết, chính Đức Phật nhập Đại Niết Bàn.

Có thể nào một sự kết hợp tốt đẹp của ba nhân vật vĩ đại như vậy, mang lại kết quả tốt lành cho chư thiên và loài người, đã xảy ra một cách hoàn toàn ngẫu nhiên chăng? Chúng tôi đã tìm thấy giải đáp cho câu hỏi này trong Milinda-pañha[49] nơi Nagasena nói:

"Trong hàng trăm ngàn kiếp, cũng vậy, thưa bệ hạ, Trưởng lão Sariputta là cha, ông, chú, anh em, con trai, cháu hay bạn của Bồ Tát."[50]

Vì vậy vòng luân hồi sinh tử mệt mỏi, kết nối họ với nhau trong thời gian, cuối cùng đã kết thúc; thời gian vốn chỉ là một chuỗi của những sự kiện thoáng qua thì đối với họ đã trở nên Bất tận, và luân hồi sinh tử nhường chỗ cho Bất tử. Và trong kiếp sống cuối cùng của họ, họ đã đốt lên ngọn đuốc soi sáng thế giới. Mong cho nó tiếp tục làm như vậy lâu dài.


Part IV Discourses of Sariputta  

The suttas attributed to the Venerable Sariputta cover a wide range of subjects connected with the Holy Life, from simple morality up to abstruse points of doctrine and meditational practice. A list of them, together with a brief description of the subject matter of each, is given below. Their arrangement in the Sutta Pitaka does not give any indication of the chronological order in which they were delivered. Some few, however, contain references to particular events which make it possible to assign to them a period in the Buddha's ministry. One such is the Anathapindika Sutta, preached just before the great lay disciple's death.


Phần IV: Các bài Thuyết giảng của Sariputta  

Các bài kinh được qui kết cho Tôn giả Sariputta bao gồm nhiều chủ đề rộng lớn liên quan đến đời Sống Thánh, từ đạo đức đơn giản đến những điểm trừu tượng uyên thâm của giáo lý và thực hành thiền định. Danh sách kinh kệ, cùng với tóm lược về chủ đề của từng bài, được đưa ra dưới đây. Sự sắp xếp của chúng trong Tạng Kinh không đưa ra bất cứ dấu hiệu nào về thứ tự thời gian mà chúng được truyền tải. Tuy nhiên, một vài bài có đề cập đến các sự kiện cụ thể khiến chúng ta có thể đặt chúng vào một thời kỳ trong sự hoằng pháp của Đức Phật. Điển hình là Kinh Cấp Cô Độc - Anathapindika Sutta, được thuyết giảng trước khi vị đại đệ tử viên tịch.


Majjhima Nikaya

No. 3 Heirs of Dhamma (Dhammadayada Sutta)
After the Buddha had discoursed on "heirs of Dhamma" and "heirs of worldliness" and had retired into his cell, the Venerable Sariputta addresses the monks on how they should conduct themselves, and how not, when the Master goes into seclusion. They likewise should cultivate seclusion, should reject what they are told to give up, and should be modest and lovers of solitude. He concludes by speaking on the evil of the sixteen defilements of mind[51] and says that the Middle Way by which they can be eradicated is the Noble Eightfold Path.

No. 5: Guiltfree (Anangana Sutta)
On four types of persons: those who are guilty of an offence and know it, and those who are guilty and unaware of it; those who are guiltless and know it, and those who are guiltless and unaware of it. The first of each pair is said to be the better one of the two, and the reason is explained. This discourse shows the importance of self-examination for moral and spiritual progress.

No. 9: Right Understanding (Samma-ditthi Sutta)
Summary on p. 42


Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya

Số 3 Người Thừa Kế Pháp (Dhammadayada Sutta)
Sau khi Đức Phật thuyết giảng kinh "Người Thừa kế Pháp" và "Người Thừa kế Thế gian" và ẩn dật trong tịnh xá của ngài, Tôn giả Sariputta nói chuyện với chư tăng về cách họ nên hành xử như thế nào và không nên ra làm sao, khi Tôn Sư đi ẩn dật. Tương tự như vậy, họ nên trau dồi sự ẩn dật, nên từ chối những gì họ được bảo là phải từ bỏ, và nên khiêm tốn và yêu thích sự cô tịch. Ngài kết luận bằng cách nói về sự xấu xa của mười sáu phiền não ô trược của tâm[51] và nói rằng Trung Đạo mà qua đó chúng có thể bị tiêu diệt là Bát Chánh Đạo.

Số 5: Không có Tội (Anangana Sutta)
Về bốn loại người: những người phạm tội và biết điều đó, và những người phạm tội và không biết về nó; những người vô tội và biết điều đó, và những người vô tội và không nhận ra điều đó. Người thứ nhất của mỗi cặp được cho là tốt hơn người kia, và lý do được giải thích. Kinh này cho thấy sự quan trọng của sự tự thẩm định về tiến trình đạo đức và tâm linh.

Số 9: Chánh Tri Kiến (Samma-ditthi Sutta)
Tóm tắt ở phần II, mục Chuyển Pháp Luân
No. 28: The Greater Discourse on the Elephant Footprint Simile (Maha-hatthipadopama Sutta)
Summary on p. 40

No 43: The Greater Discourse on Explanations (Maha-vedalla Sutta)
The Elder answers a number of questions put by the Venerable Maha Kotthita, who was foremost in analytical knowledge. Sariputta matches the excellence of the questions with the clarity and profundity of his answers. The questions and answers extend from analytical examination of terms, through the position of wisdom and right understanding to subtle aspects of meditation.

No. 69: Discourse to Gulissani (Gulissani Sutta)
On the conduct and Dhamma-practice to be followed by a forest-dwelling monk. Questioned by the Venerable Maha-Moggallana, the Elder confirms that the same duties apply also to monks living in the vicinity of towns and villages.

Số 28: Đại Kinh Dụ Dấu Chân Voi (Maha-hatthipadopama Sutta)
Tóm tắt ở phần II, mục Chuyển Pháp Luân.

Số 43: Đại Kinh Sariputta - Kotthika (Maha-vedalla Sutta)
Trưởng lão trả lời một số câu hỏi đặt ra bởi Tôn giả Maha Kotthita, bậc nhất về kiến thức trực giác. Sariputta cân xứng trong việc giải đáp các câu hỏi trác tuyệt bằng các câu trả lời rõ ràng và uyên thâm của ông. Các câu hỏi và trả lời trải dài từ sự thẩm định các từ ngữ, qua mức độ của trí tuệ và chánh tri kiến đến những khía cạnh tinh tế của thiền định

Số 69: Kinh Gulissani (Gulissani Sutta)
Về phẩm hạnh và sự thực hành Pháp mà một lâm tăng phải tuân theo. Được hỏi bởi Tôn giả Maha-Moggallana, Trưởng lão khẳng định rằng các nhiệm vụ tương tự cũng áp dụng cho chư tăng sống trong vùng phụ cận của các thị trấn và làng mạc.

No. 97: Discourse to Dhanañjani (Dhanañjani Sutta)
The Venerable Sariputta explains to the brahman Dhanañjani that the multifarious duties of a layman are no excuse for wrong moral conduct, nor do they exempt one from painful consequences of such conduct in a future existence.

Later, when Dhanañjani was on his deathbed he requested the Elder to visit him, and the Venerable Sariputta spoke to him, on the way to Brahma through the Brahma-viharas. The Buddha mildly reproached the elder for not having led Dhanañjani to a higher understanding. (See p. 59)


No. 114: To Be Practiced and Not To Be Practiced (Sevitabbasevitabba Sutta)
The Venerable Sariputta elaborates upon brief indications given by the Buddha on what should be practiced, cultivated or used, and what should not. This is shown with regard to threefold action in deed, word and thought; in relation to mental attitudes and views, the six sense objects and the monk's requisites.

No. 143: Discourse to Anathapindika (Anathapindikovada sutta)

The Venerable Sariputta is called to Anathapindika's deathbed and admonishes him to free his mind from any attachment whatsoever, beginning with the six sense organs: "Thus should you train yourself, householder: 'I shall not cling to the eye, and my consciousness will not attach itself to the eye.' Thus, householder, should you train yourself." This is repeated in full for each of the other five sense organs, the six sense objects, the sixfold consciousness, sixfold contact, sixfold feeling born of contact; the six elements, the five aggregates, the four incorporeal jhanas, and concludes with detachment from this world and all other worlds; detachment from all things seen, heard, sensed and thought; from all that is encountered, sought and pursued in mind.

In short, detachment should be practiced as to the entire range of experience, beginning with what for a dying person will be his immediate concern; his sense faculties and their function.

This call for detachment drawing ever wider circles and repeating the same mighty chord of thought, must have had a deeply penetrating impact and a calming, liberating, even cheering influence on the dying devotee's mind. This was what Sariputta, the skilled teacher, obviously intended. And in fact his words had that impact because our text says that Anathapindika was moved to tears by the loftiness of the discourse, one in profundity unlike any he had ever heard before. Anathapindika passed away soon after, and was reborn as a deity in Tusita Heaven.

Số 97: Kinh Dhanañjani (Dhanañjani Sutta)
Tôn giả giải thích cho bà-la-môn Dhanañjani rằng các nhiệm vụ đa dạng của một cư sĩ không phải là biện minh cho hành xử vô đạo đức, cũng không miễn trừ người ta khỏi những hậu quả đau đớn của hành xử như vậy trong kiếp tương lai.

Sau đó, khi Dhanañjani sắp chết, ông yêu cầu Trưởng lão đến thăm, và Tôn giả Sariputta đã nói với ông, về con đường đến cõi Phạm thiên thông qua Brahma-viharas. Đức Phật đã nhẹ nhàng khiển trách trưởng lão về việc không hướng dẫn Dhanañjani đến trình độ hiểu biết cao hơn. (Xem phần II, mục Không Phẩn Nộ)


Số 114: Thực hành và Không Thực hành (Sevitabbasevitabba Suta)
Tôn giả Sariputta diễn giảng những chỉ dẫn ngắn gọn của Đức Phật về những gì nên thực hành, trau giồi hay sử dụng và những gì không nên. Điều này được thể hiện liên quan đến hành động, lời nói và suy nghĩ; liên quan đến thái độ và quan điểm tâm linh, sáu đối tượng giác quan và điều kiện tiên quyết của tăng sĩ.

Số 143: Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc (Anathapindikovada Sutta)

Tôn giả Sariputta được gọi đến giường bệnh của Cấp Cô Độc và khuyên nhủ ông buông xả mọi chấp thủ, bắt đầu với sáu giác quan: "Này cư sĩ, ông hảy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ con mắt, và tôi sẽ không hướng ý thức vào mắt.' Này cư sĩ, hảy học tập như vậy." Điều này được lập lại đầy đủ cho từng giác quan còn lại, sáu đối tượng giác quan, sáu ý thức, sáu tiếp xúc, sáu cảm giác nảy sinh do tiếp xúc, sáu yếu tố, năm uẩn, bốn thiền vô sắc, và kết thúc với sự cách ly khỏi thế giới này và tất cả các thế giới khác; cách ly khỏi những gì được thấy, nghe, cảm thọ và nhận thức; khỏi tất cả những gì gặp phải, tìm kiếm và theo đuổi trong tâm.

Tóm lại, sự cách ly nên được thực hành cho toàn bộ phạm vi trải nghiệm, bắt đầu với những gì cho người sắp chết sẽ là sự quan tâm tức thì của ông ấy; các giác quan và chức năng của chúng.

Lời kêu gọi cách ly vẽ nên những vòng tròn rộng lớn hơn và lập lại cùng một chuỗi tư tưởng hùng hồn, hẳn phải có tác động sâu sắc và một ảnh hưởng xoa dịu, giải thoát, thậm chí cổ vũ tâm thức của vị cư sĩ thành tín đang hấp hối. Đây rõ ràng là điều mà Sariputta, vị thầy tài giỏi, đã dự định. Và quả thật những lời của ông có tác động như vậy bởi vì văn bản của chúng ta nói rằng Cấp Cô Độc đã cảm động rơi lệ bởi sự trác tuyệt của bài giảng, thâm thúy hơn cả bất cứ bài giảng nào mà ông đã từng nghe. Cấp Cô Độc qua đời không lâu sau đó, và tái sinh vào cõi Trời Đâu Suất.

Digha Nikaya

No. 28: Faith-Inspiring Discourse (Sampasadaniya Sutta)
An eloquent eulogy of the Buddha by Sariputta, spoken in the Buddha's presence and proclaiming the peerless qualities (anuttariya) of his Teaching. It is an expression and at the same time a justification of Sariputta's deep confidence in the Buddha. It may be regarded as complementary to Sariputta's "Lion's Roar" which forms the first section of the discourse and is repeated in the Maha-parinibbana Sutta.[52]

No. 33: Doctrinal Recitation (Sangiti Sutta) and
No. 34: Tenfold Series Discourse (Dasuttara Sutta)
See pp. 44f.

Trường Bộ Kinh - Digha Nikaya

Số 28: Kinh Truyền Niềm Tin (Sampasadaniya Sutta)
Bài tán dương hùng hồn về Đức Phật do Sariputta thuyết trình trước sự hiện diện của ngài và tuyên bố những phẩm chất siêu việt (anuttariya) trong Giáo lý của ngài. Đó là giáo trình và đồng thời là biện minh cho niềm tin sâu xa của Sariputta đối với Đức Phật. Nó có thể được xem là bổ sung cho "Tiếng Rống của Sư tử" của Sariputta, tạo thành phần đầu tiên của kinh và được lập lại trong Kinh Đại Niết Bàn - Maha-parinibana Sutta.[52]

Số 33: Kinh Tụng Niệm Giáo Lý (Sangiti Sutta) và
Số 34: Kinh Từ Một đến Mười nhóm Giáo Pháp (Dasuttara Sutta)
Xem phần II, mục Chuyển Pháp Luân

Anguttara Nikaya

Roman figures denote the number of the book (nipata) and Arabic figures the number of the sutta. The division of the suttas in the Anguttara Nikaya is only numerical.

II, 37 (Samacitta-Sutta):
On the stream-winner, the once-returner and the non-returner, and on what determines the places of the rebirths they have still before them. See p. 43.
III, 21:
On another classification of Noble Persons (ariya puggala): the Body-witness (kayasakkhi), the one attained to Right Understanding (ditthippatto) and the one Liberated through Faith (saddha-vimutto).
IV, 79:
Sariputta asks the Buddha why the enterprises of some people fail, those of others succeed, and those of others even surpass their expectations. The Buddha replies that one of the reasons is generosity, or lack of it, shown to ascetics, priests and monks.

Tăng Chi Bộ Kinh - Anguttara Nikaya

Số La-mã dùng để chỉ số mục của tạng kinh (nipata) và số Ả-rập để chỉ số mục của kinh. Các bài kinh trong Tăng Chi Bộ Kinh được sắp theo pháp số.

II, 37 (Samacitta-Sutta):
Về bậc Nhập Lưu, Nhất Lai và Bất Lai, và những gì quyết định nơi tái sinh mà họ vẫn còn trước mặt họ. Xem phần II, mục Chuyển Pháp Luân.
III, 21:
Về một phân loại khác của các bậc Thánh Hiền (ariya puggala): Thân chứng(kayasakkhi), người đạt được Chánh Tri kiến (ditthippatto) và người được Giải thoát nhờ Niềm Tin (saddha-vimutta).
IV, 79:
Sariputta hỏi Đức Phật tại sao việc tu tập của một số người bị thất bại, một số người khác thì thành công, và số khác thậm chí vượt qua sự mong đợi của họ. Đức Phật trả lời rằng một trong những lý do là sự độ lượng, hoặc thiếu nó, thể hiện với các khất sĩ, đạo sĩ và tăng sĩ.

IV, 156:
On four qualities indicative of loss or maintenance of wholesome states of mind.

Here it is said that if one finds in oneself four qualities one can know for certain that one has lost wholesome qualities, and that this is what has been called deterioration by the Blessed One. These four are: excessive greed, excessive hate, excessive delusion, and lack of knowledge and wisdom concerning the diverse profound subjects (relating to wisdom).

If on the other hand, one finds in oneself four other qualities, one can know for certain that one has not lost one's wholesome qualities, and that this is what has been called progress by the Blessed One. These four other qualities are: attenuated greed, attenuated hate, attenuated delusion, and the possession of knowledge and wisdom concerning the diverse profound subjects (relating to wisdom).

IV, 167f:
The four types of progress on the Path. See p. 23.
IV, 171:
Sariputta elaborates a brief statement made by the Buddha on the four forms of personalized existence (attabhava) and puts an additional question. The Buddha's reply to it was later elaborated by Sariputta in the Samacitta Sutta (see above).

IV, 156:
Về bốn phẩm chất biểu thị sự mất mát hay duy trì các trạng thái lành mạnh của tâm.

Ở đây nói rằng nếu một người tìm thấy trong mình bốn phẩm chất, người ấy có thể biết chắc rằng họ đã đánh mất những phẩm chất lành mạnh, và đó là những gì mà Đức Thế Tôn gọi là suy đồi. Bốn điều này là: tham lam quá độ, hận thù quá độ, si mê quá độ, và thiếu kiến thức và trí tuệ liên quan đến các chủ đề sâu sắc đa dạng (liên quan đến trí tuệ).

Trái lại, nếu người ta tìm thấy trong mình bốn phẩm chất khác, người ấy có thể biết chắc rằng họ đã không đánh mất những phẩm chất lành mạnh của mình, và đó là những gì mà Đức Thế Tôn gọi là tiến bộ. Bốn phẩm chất này là: tham lam suy giảm, hận thù suy giảm, si mê suy giảm, và sở hữu kiến thức và trí tuệ liên quan đến các chủ đề sâu sắc đa dạng (liên quan đến trí tuệ).

IV, 167f:
Bốn loại phát triễn trên đường Đạo. Xem phần II, mục Tình Bạn.
IV, 171:
Sariputta diễn giảng một lời tuyên bố ngắn của Đức Phật về bốn hình thức của ngã thể hay tự tính (attabhava) và đặt thêm câu hỏi. Câu trả lời của Đức Phật sau đó được diễn giảng bởi Sariputta trong Samacitta Sutta (xem ở trên).

IV, 172:
Sariputta states that he attained to the fourfold analytical knowledge (patisambhida-ñana) two weeks after his ordination (i.e., at his attainment of Arahatship). He appeals to the Buddha for confirmation. See p. 38.
IV, 173:
Discussion with Maha Kotthita on the limits of the explainable. The Venerable Sariputta says: "As far, brother, as the six bases of sense-impression (phassayatana) reach, so far reaches the (explainable) world of diffuseness (papañca); and as far as the world of diffuseness reaches, so far reach the six bases of sense-impression. Through the entire fading away and cessation of the six bases of sense impression, the world of diffuseness ceases and is stilled."
IV, 175:
On the need of both knowledge and right conduct (vijjacarana) for the ending of suffering.
IV, 179:
On the reasons for obtaining, and not obtaining, Nibbana in the present life.

IV, 172:
Sariptutta tuyên bố rằng ông đạt được bốn loại kiến thức trực giác (patisambhida-ñana) hai tuần sau khi thọ giới (tức là khi ông đạt được quả vị A-la-hán). Ông cầu xin Đức Phật xác nhận. Xem Phần I, mục Từ Sinh ra đến Thành tựu Quả vị A-la-hán.
IV, 173:
Thảo luận với Maha Kotthita về giới hạn của sự có thể giải thích được. Tôn giả Sariputta nói: "Thưa anh, khi sáu căn của cảm xúc (phassayatana) đạt đến, cho đến giờ chỉ đạt đến thế giới của sự khuếch tán có thể giải thích được (papañca); và mức độ mà thế giới của sự khuếch tán đạt đến, cho đến giờ chỉ đạt đến sáu căn của cảm xúc. Qua toàn bộ sự tan biến và chấm dứt của sáu căn của cảm xúc, thế giới của sự khuếch tán chấm dứt và lắng đọng."
IV, 175:
Về sự cần thiết của cả kiến thức và hành xử đúng đắn (vijjacarana) để chấm dứt đau khổ.
IV, 179:
Về những lý do cho việc đạt được, và không đạt được, Niết bàn trong kiếp hiện tại.

V, 1 5:
Five reasons why people ask questions: through stupidity and foolishness; with evil intentions and through covetousness; with a desire to know; out of contempt; with the thought: "If he answers my question correctly, it is good; if not, then I shall give the correct answer.
V, 167:
On how to censure fellow-monks.
VI, 14-15:
Causes of a monk's good or bad dying.
VI, 41:
Sariputta explains that a monk with supernormal powers may, if he so wishes, regard a tree trunk merely as being solid, or as a liquid, fiery (calorific) or airy (vibratory), or as being either pure or impure (beautiful or ugly), because all these elements are to be found in the tree.
VII, 66:
On respect and reverence, Sariputta says that these are helpful in overcoming what is unwholesome and developing what is wholesome: that is respect and reverence towards the Master, the Teaching, the Community of Monks, the training, meditation, heedfulness (appamada) and towards the spirit of kindliness and courtesy (patisanthara). Each of these factors is said to be a condition of the one following it.

V, 15:
Năm lý do tại sao người ta đặt câu hỏi: qua sự ngu ngốc và dại dột; với ý định xấu và qua tham lam; với mong muốn được biết; do khinh thường; với suy nghĩ: "Nếu ông ấy trả lời đúng câu hỏi của mình thì tốt; nếu không, thì mình sẽ đưa ra câu trả lời đúng.
V, 167:
Làm thế nào để khiển trách chư tăng đồng liêu.
VI, 14-15:
Nguyên nhân của cái chết tốt hay xấu của một tăng sĩ.
VI, 41:
Sariputta giải thích rằng một tăng sĩ với các năng lực siêu phàm có thể, nếu muốn, xem thân cây chỉ đơn thuần là chất rắn, hay chất lỏng, lửa (nhiệt lượng) hay không khí (rung động), hay là tinh khiết hay không tinh khiết (đẹp hay xấu), bởi vì tất cả những yếu tố này đều được tìm thấy trong cây.
VII, 66:
Về sự kính trọng và tôn kính, Sariputta nói rằng những điều này hữu ích trong việc khắc phục những gì không lành mạnh và phát triễn những gì lành mạnh; đó là kính trọng và tôn kính Tôn Sư, Giáo lý, Tăng Đoàn, huấn luyện, thiền định, chánh niệm (appamada) và hướng tới tâm từ và nhã nhặn (patisanthara). Mỗi yếu tố này được cho là điều kiện tiên quyết của yếu tố tiếp theo.

IX, 6:
On the two things needful to know about people, robes, almsfood, lodging, villages, towns and countries: that is, whether one should associate with them, use them, or live in them, or whether one should not.
IX, 11:
A second "Lion's Roar" of Sariputta, uttered in the Master's presence on the occasion of a monk's false accusation; with nine similes proclaiming his freedom from anger, detachment from the body, and his inability to hurt others. See p. 63.
IX, 13:
A discussion with the Venerable Maha Kotthita about the purpose of living the Holy Life.
IX, 14:
The Venerable Sariputta questions the Venerable Samiddhi about the essentials of the Dhamma and approves of his answers.
IX, 26:
This text illustrates the Venerable Sariputta's scrupulous fairness even towards antagonists. He corrects a statement attributed to Devaddata which was probably wrongly formulated by one of Devadatta's followers who reported it to Sariputta. Later, Sariputta speaks to that monk on the fully developed and steadfast mind, which is not shaken by even the most attractive sense impressions.
IX, 34:
On Nibbana, which is described as happiness beyond feelings.

IX, 6:
Hai điều cần thiết để biết về người ta, y áo, thực phẩm khất thực, chỗ ở, làng mạc, thị trấn và xứ sở: đó là, liệu một người nên liên kết với chúng, sử dụng chúng, hay sống trong chúng, hay không nên.
IX, 11:
"Tiếng Rống của Sư tử" thứ nhì của Sariputta, thốt ra trước sự hiện diện của Tôn Sư vào dịp một nhà sư đặt điều vu khống; với chín ví von nhằm tuyên bố ông đã thoát khỏi giận dữ, không chấp thủ thân, và không có khả năng làm tổn thương người khác. Xem phần II, mục Không Phẩn Nộ.
IX, 13:
Thảo luận với Tôn giả Maha Kotthita về mục đích của cuộc Sống Thánh Thiện.
IX, 14:
Tôn giả Sariputta chất vấn Tôn giả Samiddhi về những điểm cốt yếu của Pháp và chấp thuận các câu trả lời của ông.
IX, 26:
Văn bản này minh họa sự công bằng cẩn trọng của Tôn giả Sariputta ngay cả đối với các địch thủ. Ông sửa chữa một tuyên bố được cho là của Devaddata mà có lẽ được tạo ra một cách sai lầm bởi một trong các môn đệ của Devadatta, người đã báo cáo nó với Sariputta. Sau này, Sariputta nói với nhà sư đó về tâm viên mãn và kiên định, nó không bị lay chuyển bởi ngay cả những quan điểm hấp dẫn nhất.
IX, 34:
Về Niết bàn, được mô tả là hạnh phúc vượt qua cảm xúc.

X, 7:
Sariputta describes his meditation, during which he had only the single perception that "Nibbana is the ceasing of existence." See p. 37.
X, 65:
To be reborn is misery; not to be reborn is happiness.
X, 66:
To have delight in the Buddha's Teaching and Discipline is happiness; not to have delight in them is misery.
X, 67-68:
Causes of progress and decline in the cultivation of what is salutary.
X, 90:
On the ten powers of a canker-free arahant that entitle him to proclaim his attainment.

X, 7:
Sariputta mô tả thiền định của mình, trong thời gian đó ông chỉ có một nhận thức duy nhất rằng "Niết bàn là sự ngừng tồn tại." Xem phần II, mục Thành Tựu.
X, 65:
Tái sinh là đau khổ; không phải tái sinh là hạnh phúc.
X, 66:
Có niềm vui trong Giáo Lý và Kỷ Luật của Đức Phật là hạnh phúc, không có niềm vui trong đó là đau khổ.
X, 67-68
Nguyên nhân của tiến bộ và suy giảm trong sự trau giồi điều hữu ích.
X, 90:
Về mười năng lực của một vị a-la-hán vô lậu cho phép ông công bố sự chứng đắc của mình.

Samyutta Nikaya

Nidana Samyutta

24:
Sariputta rejects the alternatives that suffering is produced either by oneself or by another, and explains the conditioned arising of suffering through the (sixfold sense-) contact (phassa).
25:
The same is stated with regard to both happiness and suffering (sukha-dukkha).
31:
On the conditioned arising of existence from nutriment.
32:
Kalara Sutta. Questioned by the Buddha, Sariputta says that the knowledge inducing him to declare his attainment of arahantship was that he knew: the cause of birth being extinct, the result (i.e., future birth) becomes extinct. Hence he was able to say, in the words of the stock formula declaring Arahatship: "Extinct is birth..." (khina jati). He then replies to further questions of the Buddha about the cause and origin of birth, becoming and the other terms of dependent origination, leading up to feeling, the contemplation of which had served the Venerable Sariputta as the starting-point for his attainment of Arahatship. He says that, as he sees impermanence and suffering in all three kinds of feeling, there is in him no arising of any hedonic gratification (nandi).

Tương Ưng Bộ Kinh - Samyutta Nikaya

Nidana Samyutta

24:
Sariputta bác bỏ những quan niệm cho rằng đau khổ tạo ra bởi chính mình hay bởi người khác, và giải thích lý duyên khởi của đau khổ qua sự tiếp xúc của sáu giác quan(phassa).
25:
Lý lẻ tương tự cũng được nêu đối với cả hạnh phúc và đau khổ (sukha-dukha).
31:
Về duyên khởi của sự tồn tại từ dinh dưỡng.
32:
Kalara Sutta. Chất vấn bởi Đức Phật, Sariputta nói rằng kiến thức khiến ông tuyên bố chứng đắc quả vị A-la-hán là ông biết: nhân duyên của sinh chấm dứt, kết quả (tức là sinh ra trong tương lai) tất chấm dứt. Vì thế ông có thể nói, theo lời của quy ước tuyên bố quả vị A-la-hán: "Sinh chấm dứt..." (khina jati). Sau đó ông trả lời những câu hỏi khác của Đức Phật về nguyên nhân và nguồn gốc của sinh, trở thành và các thuật ngữ khác của lý duyên khởi, dẫn đến cảm giác, sự quán tưởng đã phục vụ cho Tôn giả Sariputta như điểm bắt đầu cho sự chứng đắc quả vị A-la-hán của ông. Ông nói rằng, khi ông nhìn thấy vô thường và đau khổ trong cả ba loại cảm giác, thì trong ông không có khởi sinh bất cứ niềm hoan hỉ khoái lạc nào (nandi).

Khandha Samyutta

1:
Sariputta explains in detail the Buddha's saying: "Even if the body is ill, the mind should not be ill."
2:
Monks going to distant border districts are instructed by Sariputta on how to answer questions posed to them by non-Buddhists. He tells them that the removal of desire for the five aggregates is the core of the Teaching.
122-123:
On the importance of reflecting on the five aggregates. If one who possesses virtue (or, in Text 123, learning) contemplates the five aggregates as impermanent, bound up with suffering and void of self, he may be able to attain to stream-entry. If a stream-winner, once-returner or non-returner thus contemplates, he may be able to win to the next higher stage. An arahant should also contemplate the five aggregates thus, as it will conduce to his happiness here and now, as well as to mindfulness and clear comprehension.
126:
On ignorance and knowledge.

Khandha Samyutta

1:
Sariputta giải thích cặn kẽ câu nói của Đức Phật: "Ngay cả khi thân thể bị bệnh, tâm không nên bị bệnh."
2:
Chư tăng đi đến những vùng biên giới xa xôi được Sariputta hướng dẫn cách trả lời các câu hỏi mà những người không phải là Phật tử đặt ra cho họ. Ông nói với họ rằng việc loại bỏ ham muốn đối với ngũ uẩn là cốt lõi của Giáo Lý.
122-123:
Về sự quan trọng của việc quán chiếu ngũ uẩn. Nếu một người có đức hạnh (hoặc, trong văn bản số 123, có học) quán chiếu ngũ uẩn là vô thường, ràng buộc với đau khổ và vô ngã, người đó có thể chứng đắc quả vị nhập lưu. Nếu bậc nhập lưu, nhất lai hay bất lai quán chiếu như vậy, họ có thể thành tựu giai đoạn cao hơn tiếp theo. Bậc A-la-hán cũng nên quán chiếu ngũ uẩn như vậy, vì nó sẽ dẫn đến hạnh phúc cho họ ngay bây giờ, cũng như chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng.
126:
Về sự thiếu hiểu biết và kiến thức.

Sariputta Samyutta

1-9:
In these nine texts Sariputta speaks of his having developed all nine meditative attainments, i.e., from the first jhana up to the cessation of perception and feeling; and states that in doing so he was always free of any self-affirmation. See p. 37.
10:
Once, at Rajagaha, after the almsround the Venerable Sariputta was taking food his food near a wall. A female ascetic called Sucimukhi (Bright-face) approached him and asked whether when eating he turned to one or other of the directions, as done by some non-Buddhists ascetics. Sariputta denied it for every one of the directions, explaining them in his own way as being several means of livelihood that are wrong for ascetics, such as geomancy, astrology, going on errands, etc. He said that he did not turn to any of those wrong directions, but sought his almsfood in the right manner; and what he had thus obtained righteously, that he would eat. Sucimukhi was deeply impressed, and thereafter went from street to street and place to place loudly proclaiming: "The Sakya ascetics take their food righteously! They take their food blamelessly! Please give almsfood to the Sakya ascetics!"[53]

Sariputta Samyutta

1-9:
Trong chín văn bản này Sariputta nói về việc ông đã phát triễn tất cả chín chứng đắc thiền định, tức là, từ tầng thiền thứ nhất cho đến sự chấm dứt tri giác và cảm giác; và tuyên bố rằng khi làm như vậy ông luôn không có bất kỳ sự tự khẳng định nào. Xem phần II, mục Thành Tựu.
10:
Có lần, tại Rajagaha, sau khi đi khất thực, Tôn giả Sariputta ngồi thọ thực gần một bức tường. Một nữ tu sĩ khổ hạnh tên là Sucimukhi (Gương mặt Tươi sáng) tiếp cận ông và hỏi liệu khi ăn ông có quay sang hướng này hoặc hướng kia, như một số tu sĩ khổ hạnh không theo đạo Phật đã làm. Sariputta phủ nhận việc quay sang bất kỳ hướng nào, giải thích theo cách của riêng ông rằng đó là một số phương tiện sinh kế sai lầm đối với tu sĩ khổ hạnh, chẳng hạn như phong thủy, chiêm tinh, đi làm việc vặt, v.v. Ông nói rằng ông không quay sang bất kỳ hướng nào của những hướng sai lầm đó, mà tìm kiếm thực phẩm khất thực theo cách đúng đắn; và những gì ông nhận được một cách chân chính thì ông sẽ ăn. Sucimukhi vô cùng cảm kích, và sau đó đi hết phố này qua phố nọ, nơi này qua nơi nọ lớn tiếng tuyên bố: "Các khất sĩ Sakya lấy thức ăn của họ một cách chân chính! Họ lấy thức ăn của họ một cách đúng đắn! Xin hảy cúng dường khất thực cho các khất sĩ Sakya!"[53]

Salayatana Samyutta

232:
Not the senses and their objects, but the desire for them is the fetter that binds to existence.

Jambukhadaka Samyutta

Sariputta replies to questions put by his nephew, Jambukhadaka, who was a Paribbajaka, i.e., a non-Buddhist ascetic.

1-2:
He defines Nibbana and Arahatship as the elimination of greed, hatred and delusion.
3-16:
He replies to questions about those who proclaim truth: about the purpose of the Holy Life; about those who have found true solace. He explains feeling, ignorance, the taints, personality, etc. and speaks on what is difficult in the Buddha's Doctrine and Discipline.

Salayatana Samyutta

232:
Không phải các giác quan và đối tượng của chúng, mà sự mong muốn chúng là mắc xích ràng buộc vào sinh tử.

Jambukhadaka Samyutta

Sariputta trả lời những câu hỏi của cháu ông, Jambukhadaka, là một Paribbajaka, tức là một tu sĩ khổ hạnh không theo đạo Phật.

1-2:
Ông định nghĩa Niết bàn và A-la-hán là sự loại bỏ tham, sân và si.
3-16:
Ông trả lời các câu hỏi về những người tuyên bố sự thật: về mục đích của đời Sống Thánh; về những người đã tìm thấy niềm an ủi đích thật. Ông giải thích về cảm giác, vô minh, lậu hoặc, nhân cách, v.v. và nói về những điểm phức tạp trong Giáo Lý và Kỷ Luật của Đức Phật.

Indriya Samyutta

44:
Questioned by the Buddha, Sariputta says that not out of faith in him, but from his own experience, he knows that the five spiritual faculties (confidence, etc.) lead to the Deathless.
48-50:
On the five spiritual faculties. (These texts are translated in Wheel No. 65/66, The Way of Wisdom, pp. 47f, 49f)

Sotapatti Samyutta

55:
On the four conditioning factors of stream-entry (sotapattiyanga).

Indriya Samyutta

44:
Hỏi bởi Đức Phật, Sariputta nói rằng không phải vì lòng tin vào ngài mà từ kinh nghiệm của riêng mình, ông biết rằng năm năng lực tâm linh (tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn) dẫn đến Bất Tử.
48-50:
Về năm năng lực tâm linh. (Các bài kinh này được dịch trong Wheel No. 65/66, The Way of Wisdom, pp. 47f, 49f)

Sotapatti Samyutta

55:
Về bốn yếu tố tiên quyết của quả vị nhập lưu (sotapattiyanga).


Part V Sariputta in the Jatakas  

As might be expected, the Venerable Sariputta makes frequent appearances in the Jatakas, the stories of the Buddha's previous lives. In these, the Bodhisatta and Sariputta assume various roles; in some existences we find Sariputta as the teacher and the Bodhisatta as pupil, as for example in the Susima (163), Cula Nandiya (223), Silavimamsa (305), Karandiya (356) and Maha Dhammapala (447) Jatakas. In the last-mentioned Jataka, however, the Bodhisatta, as pupil, gives his teacher, Sariputta, a valuable lesson: not to give the Five Precepts indiscriminately to those who have no desire to accept them nor the intention to observe them.

In several births Sariputta appears as a human being and the Bodhisatta an animal. Some examples are the Cula Nandiya Jataka (223), the Romaka Jataka (277) — where Sariputta, as a wise ascetic, instructs a partridge, the Bodhisatta — the Bhojajaniya Jataka (23) and the Dummedha Jataka (122).

In other stories the roles are reversed, as in the Jarudapana (256) and Kundakakucchi Sindhava (254) Jatakas (for the latter, see below), where Sariputta is an animal and the Bodhisatta human. Sometimes, as in the Kurungamiga Jataka (206), both are animals.

The following are summaries of Jatakas in which the Venerable Sariputta's previous personalities appear.


Phần V: Sariputta trong Truyện Tiền Thân  

Như dự đoán, Tôn giả Sariputta xuất hiện thường xuyên trong tuyển tập Truyện Tiền Thân, những câu truyện về tiền kiếp của Đức Phật. Trong đó, Bồ Tát và Sariputta đảm nhận nhiều vai trò khác nhau; trong vài kiếp sống chúng ta thấy Sariputta là thầy giáo và Bồ Tát là học trò, chẳng hạn như trong Susima (163), Cula Nandiya (223), Silavimamsa (305), Karandiya (356)Maha Dhammapala (447) của tuyển tập Truyện Tiền Thân. Tuy nhiên, trong truyện Maha Dhammapala, Bồ Tát, là học trò, đã cho thầy của mình, Sariputta, một bài học quý giá: không được ban Ngũ Giới một cách bừa bãi cho những người không có ý muốn chấp nhận chúng cũng như không có ý định tuân thủ chúng.

Trong một số kiếp Sariputta xuất hiện như loài người và Bồ Tát như loài thú. Vài thí dụ là Cula Nandiya Jataka (223), Romaka Jataka (277) — trong đó Sariputta, là một tu sĩ khổ hạnh thông thái, hướng dẫn một con gà gô, là Bồ Tát — Bhojajaniya Jataka (23)Dummedha Jataka (122).

Trong các truyện khác, vai trò được hoán chuyển, như trong Jarudapana (256)Kundakakucchi Sinhava (254) Jatakas (về câu truyện thứ nhì, xem dưới đây), trong đó Sariputta là thú và Bồ Tát là người. Đôi khi, như trong Kurungamiga Jataka (206), cả hai đều là loài thú.

Sau đây là tóm tắt về những Truyện Tiền Thân mà trong đó nhắc đến tiền kiếp của Tôn giả Sariputta.

Lakkhana Jataka (11):
As the wise one of two brother stags, each leader of a herd, Sariputta brings his herd safely back to the hills from a dangerous track, while his foolish brother (Devadatta) loses his whole herd.
Bhojajaniya Jataka (23):
The Bodhisatta is a superb warsteed, while Sariputta is a knight entrusted with the task of capturing seven hostile kings. He succeeds, thanks to the endurance and sacrificing spirit of the steed.
Visavanta Jataka (69):
Sariputta is a snake which refuses to suck back its poison from a man bitten by it, preferring death. This Jataka was told when Sariputta, the Great Disciple, gave up the eating of meal cakes, which he enjoyed, and never went back on his resolution.
Parosahassa Jataka (99):
Sariputta, as pupil of a hermit teacher, is able to understand short, enigmatic sayings. A comment on his penetrative mind.
Dummedha Jataka (122):
Sariputta, as a king of Benares, is able to appreciate excellence when he sees it. The Bodhisatta is a superb white elephant. Devadatta, as king of Magadha, had owned that elephant but lost it through jealousy.

Lakkhana Jataka (11):
Là kẻ khôn ngoan trong số hai anh em nai, mỗi con lãnh đạo một đàn nai, Sariputta mang bầy đàn của mình an toàn trở về vùng đồi từ con đường mòn nguy hiểm, trong khi đứa em khờ dại của ông (Devadatta) lạc mất bầy đàn của mình.
Bhojajaniya Jataka (23):
Bồ Tát là một chiến mã xuất chúng, trong khi Sariputta là một hiệp sĩ được giao nhiệm vụ bắt giữ bảy vị vua thù địch. Ông thành công, nhờ vào tính bền bỉ và hi sinh của chiến mã.
Visavanta Jataka (69):
Sariputta là một con rắn từ chối hút lại chất độc từ người bị nó cắn, đã chọn cái chết. Truyện Tiền Thân này được kể khi Sariputta, Đại Đệ Tử, từ bỏ việc ăn món bánh mà ông rất thích, và không bao giờ làm ngược với thệ nguyện của mình.
Parosahassa Jataka (99):
Sariputta, là học trò của một vị thầy ẩn tu, có thể hiểu những lời nói ngắn gọn, bí ẩn. Một nhận xét về trí tuệ uyên thâm của ông.
Dummedha Jataka (122):
Sariputta, là vua của xứ Benares, có thể trân trọng sự xuất sắc khi ông nhìn thấy nó. Bồ Tát là một con voi trắng tuyệt vời. Devadatta, là vua của xứ Magadha, sở hữu con voi đó nhưng bị mất nó do ghen tị.

Rajovada Jataka (151):
Sariputta and Maha Moggallana are both charioteers of powerful kings. Meeting one another on a narrow road, each expects the other to give way, and they decide the issue by proclaiming the virtues of their respective monarchs. Sariputta, whose king is the Bodhisatta, wins the contest by showing that his master's virtue is superior: he is not only good to those who are good, he is good to the bad as well.
Alinacitta Jataka (156):
Sariputta, as an elephant, shows the virtue of gratitude.
Kurungamiga Jataka (206):
Sariputta as a woodpecker and Maha Moggallana as a tortoise save the life of the Bodhisatta, who is an antelope, from a hunter (Devadatta). Later, the woodpecker saves the imprisoned tortoise.
Cula Nandiya Jataka (223):
As a wise brahman teacher, Sariputta advises his pupil, Devadatta, not to be harsh, cruel and violent, but his exhortation is in vain.

Rajovada Jataka (151):
Sariputta và Maha Moggallana đều là người đánh xe ngựa của các vị vua quyền thế. Gặp nhau trên con đường hẹp, người này mong đợi người kia nhường lối, và họ quyết định vấn đề bằng cách tuyên bố đức hạnh của quốc vương của họ. Sariputta, vua là Bồ Tát, thắng cuộc bằng cách cho thấy rằng đức hạnh của chủ nhân mình là cao siêu: ngài không chỉ tốt với người tốt mà còn tốt với kẻ xấu.
Alinacitta Jataka (156):
Sariputta, là con voi, thể hiện đức tính biết ơn.
Kurungamiga Jakata (206):
Sariputta là con chim gõ kiến và Maha Moggallana là con rùa đã cứu Bồ Tát, là con sơn dương, thoát khỏi người thợ săn (Devadatta). Sau đó, con chim gõ kiến cứu con rùa bị giam cầm.
Cula Nandiya Jakata (223):
Là vị thầy bà-la-môn thông thái, Sariputta khuyên học trò của mình, Devadatta, không nên khắc nghiệt, độc ác và bạo lực, nhưng lời khuyên của ông là vô ích.

Kundakakucchi Sindhava Jataka (254):
Sariputta, as a wondrous horse owned by the Bodhisatta, a horse-dealer, benefits an impoverished old woman who had owned the horse previously.
Jarudapana Jataka (256):
Sariputta, as a Naga king, helps the Bodhisatta, a merchant, to transport some treasure which the latter found.
Vyaggha Jataka (272):
In a former life as a Yakkha, the monk Kokalika could not live together with Sariputta and Maha Moggallana, nor could he live without them.
Romaka Jataka (277):
Sariputta, as a wise ascetic, instructs a partridge, the Bodhisatta.
Abbhantara (281) and Supatta (292) Jatakas:
Incidents of Sariputta's last life. Rahula, whose mother is a bhikkhuni, requests the Venerable Sariputta to get sugared mango juice as a medicine for her flatulence, which he does. In (292), for another illness of hers, the Venerable Sariputta procures rice cooked with ghee and flavored with red fish (rohita-maccha).

Kundakakucchi Sindhava Jataka (254):
Sariputta, là một con ngựa kỳ diệu thuộc sở hữu của Bồ Tát, người buôn ngựa, mang lại lợi ích cho một bà lão nghèo khổ đã từng sở hữu con ngựa trước đó.
Jarudapana Jataka (256):
Sariputta, là vua xứ Naga, giúp Bồ Tát, một thương gia, vận chuyển một số kho báu mà người này tìm thấy.
Vyaggha Jataka (272):
Trong một tiền kiếp là Yakkha, sư Kokalika không thể sống cùng với Sariputta và Maha Moggalla, cũng không thể sống mà không có họ
Romaka Jataka (277):
Sariputta, là một tu sĩ khổ hạnh thông thái, hướng dẫn một con gà gô, là Bồ Tát.
Abbhantara (281) and Supatta (292) Jatakas:
Sự cố trong kiếp sống trước của Sariputta. Rahula, có mẹ là một tỳ khưu ni, yêu cầu Tôn giả Sariputta lấy nước ép xoài ngọt làm thuốc chữa bệnh đầy hơi của bà, và ông làm như thế. Trong (292), cho một căn bệnh khác của bà, Tôn giả Sariputta mua cơm nấu với bơ và thêm hương vị với cá đỏ (rohita-maccha).

Sayha Jataka (310):
Ananda, as a king sends his courtier, Sayha (Sariputta) to a friend of his youth (the Bodhisatta) who had become an ascetic, asking him in vain to return and be the court brahman.
Khantivadi Jataka (313):
When the Bodhisatta was a wise ascetic, the Preacher of Patience (Khantivadi), and was tortured by King Kalabu (Devadatta), Sariputta was that king's commander-in-chief of the army. Sariputta bandaged the Bodhisatta's wounds.
Mamsa Jataka (315):
Sariputta was a hunter and the Bodhisatta a merchant's son. Addressing the hunter as "friend," and winning him over with kind words, the Bodhisatta persuaded him to give up his cruel profession.
Vannoroha Jataka (361):
In their last lives, when the Great Disciples Sariputta and Maha Moggallana were living in solitude, a beggar who attended on them and ate the remnants of their food, tried to set them at variance but failed. Each of them just smiled at the calumnies and told to go away. The Jataka relates that the same had happened in an earlier life when the beggar was a jackal and Sariputta and Maha Moggallana were a lion and a tiger.

Sayha Jataka (310):
Ananda, là vua, gởi quan cận thần Sayha (Sariputta) đến gặp người bạn thuở thiếu thời của ông (Bồ Tát), người đã trở thành một tu sĩ khổ hạnh, yêu cầu ngài trở về và làm đạo sĩ bà-la-môn cho triều đình nhưng vô vọng.
Khantivadi Jataka (313):
Khi Bồ Tát là một tu sĩ khổ hạnh thông thái, Giảng sư về Nhẫn nhục (Khantivadi), và bị Vua Kalabu (Devadatta) tra tấn, Sariputta là tổng tư lệnh quân đội của vị vua đó. Sariputta băng bó vết thương cho Bồ Tát.
Mamsa Jataka (315):
Sariputta là thợ săn và Bồ Tát là con trai của một thương gia. Gọi người thợ săn là "bạn" và khuyên nhủ ông bằng lời lẽ tử tế, Bồ Tát đã thuyết phục ông từ bỏ cái nghề độc ác của mình.
Vannoroha Jataka (361):
Trong kiếp sống trước của họ, khi Đại Đệ Tử Sariputta và Maha Moggallana sống ẩn dật, một người ăn mày sống bám họ và ăn thức ăn thừa của họ, đã cố gắng gây mâu thuẫn giữa họ nhưng thất bại. Họ chỉ cười trước lời vu khống và bảo hắn hảy đi chỗ khác. Truyện Tiền Thân kể rằng điều tương tự đã xảy ra trong một kiếp trước khi người ăn mày là con chó rừng và Sariputta và Maha Moggallana là con sư tử và con hổ.

Kotisimbali Jataka (412):
Sariputta, as a king of the Garudas (supanna-raja) saves a tree which was the home of a tree spirit, the Bodhisatta.
Kanha Dipayana Jataka (444):
Sariputta is the ascetic Ani-Mandaviya. Impaled by the king on a false accusation, he bears the torture patiently and without resentment, knowing it to be the result of past evil kamma. The Bodhisatta is his brother-ascetic, Kanha Dipayana, who in an Act of Truth confesses that all throughout he has lived the ascetic life unwillingly, except for the first week.
Maha Paduma Jataka (472):
Sariputta, as a hill spirit, saves the life of the Bodhisatta, who is Prince Maha Paduma.

Kotisimbali Jataka (412):
Sariputta, là vua của xứ Garudas (supanna-raja) bảo vệ một cái cây vốn là nhà của thần cây, Bồ Tát.
Kanha Dipayana Jataka (444):
Sariputta là tu sĩ khổ hạnh Ani-Mandaviya. Bị vua đâm chém do một cáo buộc sai, ông nhẫn nhục chịu đựng sự tra tấn và không phẩn nộ, biết đó là kết quả của nghiệp ác trong quá khứ. Bồ Tát là sư huynh tu khổ hạnh của ông, Kanha Dipayana, người mà trong một Hành động Chính trực thú nhận rằng đã sống cuộc đời khổ hạnh một cách miễn cưỡng, ngoại trừ tuần lễ đầu tiên.
Maha Paduma Jataka (472):
Sariputta, là thần núi, cứu mạng Bồ Tát, là Hoàng tử Maha Paduma.

Appendix  

A Note on the Relics of Sariputta and Maha Moggallana

On Sanchi Hill in Bhopal are the remains of ten stupas which are among the oldest buildings still standing in India. By their architectural features and sculpture they have always been recognised as belonging to the high noon of Buddhist art, the characters in which their numerous inscriptions are written placing them at about the period of Asoka; that is, some time around the middle of the third century B.C. Some are in good preservation, while others have been reduced in the course of centuries to mere mounds of earth and stone.

It was in one of these, the now famous Third Stupa, that Sir Alexander Cunningham discovered the sacred Body Relics of the Buddha's Chief Disciples, Sariputta and Maha Moggallana, in 1851. At about the same time, more relics of the two great Arahats were found in a stupa at Satadhara, about six miles distant from Sanchi.

Phụ lục  

Ghi chú về Xá lợi của Sariputta và Maha Moggallana

Trên đồi Sanchi ở Bhopal là di tích của mười bảo tháp nằm trong số những tòa nhà cổ nhất vẫn còn tồn tại ở Ấn Độ. Bằng những đặc điểm kiến trúc và điêu khắc, chúng luôn được công nhận ra là thuộc về đỉnh cao của nghệ thuật Phật giáo, những ký tự mà trong đó có rất nhiều chữ khắc cho thấy chúng thuộc thời đại Asoka; nghĩa là vào khoảng giữa thế kỷ thứ ba trước Công nguyên. Một số được bảo trì tốt, trong khi một số khác đã bị hao mòn qua nhiều thế kỷ chỉ còn là những gò đất và đá.

Chính tại một trong những tháp này, Bảo tháp thứ ba nổi tiếng hiện nay, Sir Alexander Cunningham đã khám phá ra thánh tích Xá lợi Thân của các vị Trưởng Đệ tử của Đức Phật, Sariputta và Maha Moggallana, vào năm 1851. Cũng vào thời gian đó, thêm nhiều xá lợi của hai vị A-la-hán vĩ đại đã được tìm thấy trong một bảo tháp tại Satadhara, khoảng sáu dặm từ Sanchi.

On sinking a shaft in the center of the stupa on Sanchi Hill, Cunningham came upon a large stone slab, upwards of five feet in length, lying in a direction from north to south. Beneath the slab were found two boxes of gray sandstone, each with a brief inscription in Brahmi characters on the lid. The box to the south was inscribed "Sariputtasa" "(Relics) of Sariputta," while that to the north bore the legend "Maha-Moggallanasa." "(Relics) of Maha Moggallana."

The southernmost box contained a large flat casket of white steatite, rather more than six inches broad and three inches in height. The surface was hard and polished and the box, which had been turned on a lathe, was a beautiful piece of workmanship. Around this casket were some fragments of sandalwood believed to have been from the funeral pyre, while inside it, besides the Relic, various precious stones were found. This casket contained a single bone relic of the Venerable Sariputta, not quite one inch in length.

The stone box to the north enclosed another steatite casket, similar to that of Sariputta but slightly smaller and with a softer surface. Inside it were two bone relics of the Venerable Maha Moggallana, the larger of them being something less than half an inch in length.

Khi làm sụp một cái trục ở trung tâm của bảo tháp trên đồi Sanchi, Cunningham đã bắt gặp một phiến đá lớn, có chiều dài lên đến năm feet, nằm theo hướng từ bắc xuống nam. Bên dưới phiến đá có hai hộp sa thạch màu xám, mỗi hộp đều có ký tự Brahmi khắc trên nắp. Hộp phía nam khắc chữ "Sariputtasa", "(Xá lợi) của Sariputta," trong khi hộp phía bắc mang tên huyền thoại "Maha-Moggallanasa". "(Xá lợi) của Maha Moggallana."

Hộp phía nam chứa một tráp đựng di cốt lớn và dẹp bằng đá steatile trắng, rộng hơn sáu inches và cao ba inches. Bề mặt cứng và được đánh bóng, và cái tráp hẳn đã được quay trên máy tiện, là một tác phẩm thủ công nghệ tuyệt đẹp. Xung quanh cái tráp này có một số mảnh gỗ trầm được cho là từ giàn hỏa táng, trong khi bên trong đó, ngoài Xá lợi còn có nhiều loại đá quý khác. Tráp đựng di cốt này chứa một xá lợi xương duy nhất của Tôn giả Sariputta, dài không quá một inch.

Hộp phía bắc cũng chứa một tráp bằng đá steatite đựng di cốt, tương tự như tráp của Sariputta nhưng nhỏ hơn một chút và bề mặt mềm hơn. Bên trong là hai xá lợi xương của Tôn giả Maha Moggallana, mảnh lớn hơn có chiều dài chưa đến nửa inch.

Each of the two steatite caskets had a single ink letter inscribed on the inner surface of the lid: "Sa" for Sariputta on the southern and "Ma" for Maha Moggallana on that to the north. In Cunningham's words, "Sariputta and Maha Moggallana were the principal followers of the Buddha, and were usually styled his right and left hand disciples. Their ashes thus preserved after death the same positions to the right and left of Buddha which they had themselves occupied in life."[54] This is explained by the fact that the Buddha customarily sat facing east.

In the stupa at Satadhara, one of a group which Cunningham noted was called locally "Buddha Bhita" or "Buddha Monuments," he discovered two caskets of pale mottled steatite. These were inscribed, like those at Sanchi, "Sariputtasa" and "Maha Mogallanasa" respectively. This stupa showed signs of having been violated by robbers, but the bone relics had been left undistrubed. Cunningham, who is a very capable archaeologist, has left a detailed account of everything his excavations brought to light in these and other stupas, and it is thanks to him that the authenticity of the relics is established beyond all doubt.

Mỗi tráp steatite này có một chữ duy nhất khắc bằng mực ở mặt trong của nắp: "Sa" cho Sariputta ở phía nam và "Ma" cho Maha Moggallana ở phía bắc. Theo lời của Cunningham, "Sariputta và Maha Moggallana là các môn đệ chính của Đức Phật, và thường là đệ tử tay phải và tay trái của ngài. Do đó tro cốt của họ được bảo quản theo cùng vị trí bên phải và bên trái của Đức Phật mà chính họ đã chiếm giữ khi còn sống."[54] Điều này được giải thích vì thực tế là Đức Phật thường ngồi đối diện hướng đông.

Trong bảo tháp ở Satadhara, một trong số nhóm mà Cunningham ghi chú được người dân địa phương gọi là "Buddha Bhita" hay là "Di tích Phật", ông khám phá ra hai tráp di cốt bằng đá steatite có đốm nhạt. Chúng được khắc, giống như ở Sanchi, "Sariputtasa" và "Maha Moggallanasa". Bảo tháp này có dấu hiệu bị kẻ cướp xâm phạm, nhưng xá lợi xương không bị xáo trộn. Cunningham, là một nhà khảo cổ rất có năng lực, đã để lại bản tường thuật chi tiết về mọi thứ trong các bảo tháp này và những bảo tháp khác mà qua những cuộc khai quật của ông đã được đưa ra ánh sáng; và chính nhờ ông mà tính xác thực của các di tích xá lợi được chứng thật vượt qua mọi nghi ngờ.

The relics from both stupas were removed to England and placed in the Victoria and Albert Museum, but some discrepancies between Cunningham's description of the caskets and the actual boxes in which the relics were deposited gives reason to believe that he, or someone else, transferred the relics from Sanchi to the caskets discovered at Satadhara, and what became of the Sanchi steatite caskets is not known for certain.

The Sacred Relics were preserved in the Victoria and Albert Museum until 1939, when the Maha Bodhi Society approached the British government with a request that they be returned to India. The request was at once granted, but owing to the outbreak of the second World War in that year, the actual transfer was delayed for reasons of safety until Feb 24th, 1947. On that date they were handed over to the representatives of the Maha Bodhi Society at the Victoria and Albert Museum, and so began their journey back to the land of their origin.

Before being restored to India, however, the relics were taken to Sri Lanka, where they were received with great honor and amid general rejoicing. For two and a half months in 1947, they were displayed for public worship at the Colombo Museum, where it has been estimated that well over two million people paid homage to them. It is said that not only Buddhists but Hindus, Christians and Muslims joined in paying reverence to them.[55]

Xá lợi từ cả hai bảo tháp đã được mang đến Anh và đặt tại Bảo tàng viện Victoria và Albert, nhưng một số khác biệt giữa mô tả của Cunningham về tráp di cốt và các hộp thật sự mà trong đó xá lợi được lưu giữ cho lý do để tin rằng ông, hay là người nào khác, đã chuyển xá lợi từ Sanchi đến những tráp được tìm thấy ở Satadhara, và người ta không biết chuyện gì xảy ra cho hai cái tráp steatite ở Sanchi.

Thánh tích Xá lợi được bảo quản ở Bảo tàng viện Victoria và Albert cho đến năm 1939, khi Hội Maha Bodhi tiếp cận chính phủ Anh với yêu cầu trả lại cho Ấn Độ. Lời yêu cầu được chấp thuận ngay lập tức, nhưng do sự bùng nổ của Thế Chiến thứ nhì trong năm đó, việc di chuyển thật sự đã bị hoãn lại vì lý do an toàn cho đến ngày 24 tháng 2, năm 1947. Vào ngày đó chúng đã được bàn giao cho đại diện của Hội Maha Bodhi tại Bảo tàng viện Victoria và Albert, và thế là bắt đầu cuộc hành trình trở về nguyên quán của chúng.

Tuy nhiên, trước khi được hoàn lại cho Ấn Độ, xá lợi đã được mang đến Sri Lanka, nơi chúng được trân trọng đón nhận và trong niềm hân hoan của mọi người. Trong hai tháng rưỡi năm 1947, chúng được trưng bày cho dân chúng chiêm ngưỡng tại Bảo tàng viện Colombo, nơi được ước tính là hơn hai triệu người đã đến đảnh lễ xá lợi. Nghe nói rằng không chỉ những người theo đạo Phật mà cả những người theo đạo Hindu, đạo Thiên chúa và và đạo Hồi cũng tham dự để tỏ lòng tôn kính với họ.[55]

The next stage of their journey to the new Vihara that was being erected for their re-enshrinement at Sanchi, was Calcutta. There the relics were displayed for public homage at the Dharmarajika Vihara, headquarters of the Maha Bodhi Society of India. The same scenes of religious devotion were enacted there. Every day for two weeks an unbroken stream of people filed past the shrine where the relics were exposed, from morning until late evening. Most of the devotees were Hindus, but there was also a large number of Muslims among them, and the reverence shown by all was a deeply impressive sight. Many had come from distant parts to pay their respects to the remains of these great sons of India.

Next came a request from Burma that the relics should be taken for exposition here. This was readily granted. The reception given to them in that country revived all the pomp and religious fervor of ancient times. In order that everyone in Burma should be given an opportunity of worshipping them, the relics were conducted on a riverine tour along the Irrawaddy from Mandalay to Rangoon. The steamer that conveyed them was escorted by boats decorated in traditional Burmese style, and at every town along the river the relics were taken ashore in procession for worship at the chief pagoda. At the same time religious meetings were held, drawing vast crowds of people from the adjacent villages to hear sermons and the recitation of suttas, which usually continued all through the night.

Subsequently, at the request of the respective governments, the relics were taken for exposition to Nepal and Ladakh.

Giai đoạn kế trong cuộc hành trình đến tịnh xá mới được dựng lên cho việc tái cất giữ xá lợi tại Sanchi, là Calcutta. Ở đó xá lợi được trưng bày cho dân chúng chiêm ngưỡng tại Tịnh xá Dharmarajika, trụ sở của Hội Maha Bodhi của Ấn Độ. Những cảnh tượng tương tự của lòng sùng kính đã diễn ra ở đó. Mỗi ngày trong hai tuần lễ, một dòng người liên tục đổ về đền thờ nơi xá lợi được trưng bày, từ sáng đến tối. Đa số tín đồ là người theo đạo Hindu, nhưng cũng có một số lớn người theo đạo Hồi trong đó, và sự tôn kính được thể hiện bởi tất cả là một quang cảnh vô cùng ấn tượng. Nhiều người đã đến từ các vùng xa xôi để tỏ lòng tôn kính đối với hài cốt của những người con vĩ đại này của Ấn Độ.

Tiếp theo là một yêu cầu từ Burma rằng xá lợi nên được triển lãm ở đây. Điều này được chấp thuận nhanh chóng. Lễ đón chào họ tại quốc gia đó đã làm hồi sinh mọi vẻ rực rở và niềm tín ngưỡng nhiệt tình của thời cổ đại. Để mọi người ở Miến Điện đều có cơ hội sùng bái họ, lễ rước xá lợi được cử hành dọc theo bờ sông Irrawaddy từ Mandalay đến Rangoon. Chiếc tàu chạy hơi nước chở họ được hộ tống bởi những chiếc tàu trang trí theo phong cách truyền thống Miến Điện, và tại mỗi thị trấn dọc theo sông, xá lợi được đem lên bờ để rước về thờ phượng tại ngôi chùa chính. Đồng thời, các cuộc hội họp tôn giáo được tổ chức, thu hút đông đảo dân chúng từ những làng lân cận đến nghe thuyết pháp và tụng kinh, thường kéo dài suốt đêm.

Sau đó, theo yêu cầu của chính phủ Nepal và Ladakh, xá lợi đã được đem đi triển lãm tại các quốc gia này.

After they were returned to India the Burmese government asked that a portion of the Sacred Relics should be given to Burma. The Maha Bodhi Society of India agreed to this, and the then Prime Minister of Burma went in person to Calcutta to receive them. They were ceremonially transferred to him on the 20th October 1950. The portion allotted to Burma was afterwards enshrined in the Kaba Aye Zedi (World Peace Pagoda), built on the site of the Sixth Great Buddhist Council, close to Rangoon. The elaborate ceremonies connected with the crowning of the pagoda and the installation of the relics lasted from the 5th to 11th of March, 1952.

Another portion was given to Sri Lanka to be enshrined in a new stupa built by the Maha Bodhi Society of Sri Lanka to receive them. At the time of writing they are housed in the temple of the Maha Bodhi Society, Colombo, awaiting the completion of the building.

On the 30th November, 1952, the remaining relics were duly enshrined at Sanchi on completion of the new Chetiyagiri Vihara built to receive them. There they remain, objects of the deepest veneration to pilgrims from every Buddhist country, and a lasting reminder of the lives of those in whom the Buddha's Teaching bore its finest fruit.

Sau khi thánh tích được trao trả cho Ấn Độ, chính phủ Miến Điện yêu cầu một phần của Thánh tích Xá lợi nên được trao cho Miến Điện. Hội Maha Bodhi của Ấn Độ đồng ý điều này, và sau đó Thủ tướng Miến Điện đích thân đi đến Calcutta để tiếp nhận chúng. Buổi lễ bàn giao được tổ chức vào ngày 20 tháng 10 năm 1950. Phần được phân phối cho Miến Điện sau đó được cất giữ trong Kaba Aye Zedi (Chùa Hòa bình Thế giới), xây dựng trên địa điểm tổ chức Đại Hội Nghị Phật Giáo Thứ Sáu, gần Rangoon. Các nghi lễ cầu kỳ liên quan đến việc khánh thành chùa và đặt xá lợi kéo dài từ ngày 5 đến ngày 11 tháng 3, năm 1952.

Một phần khác được trao cho Sri Lanka được cất giữ trong một bảo tháp mới được xây bởi Hội Maha Bodhi của Sri Lanka để tiếp nhận chúng. Vào thời điểm của bài viết, chúng được đặt trong đền thờ của Hội Maha Bodhi, Colombo, chờ khi hoàn tất việc xây dựng.

Vào ngày 30 tháng 11, năm 1952, phần xá lợi còn lại được tôn trí hợp pháp tại Sanchi sau khi hoàn thành Tịnh xá Chetiyagiri mới được xây dựng để tiếp nhận chúng. Ở đó thánh tích vẫn còn là đối tượng của sự tôn kính sâu xa nhất đối với khách hành hương từ mọi quốc gia Phật giáo, và là sự nhắc nhở lâu dài về cuộc đời của những người mà Giáo lý của Đức Phật đã mang lại kết quả tốt đẹp nhất.


Notes  

42.
See Maha-parinibbana Sutta, Ch. II (Last Days of the Buddha, Wheel No. 67/69, p. 26). It was during his stay at Beluva that the Master fell gravely ill.
43.
In the Himalayas.
44.
Sariputta himself and his younger brothers and sisters.
45.
Vangisa Samy., No. 7.
46.
Satipatthana Samyutta, No. 13.
47.
Cunda Samanuddesa. Comy: "He was the Venerable Sariputta's younger brother. Before he received Higher Ordination the bhikkhus use to call him 'Novice Cunda,' and even when he was an elder he was still so addressed." (See. p. 54.)
48.
Satipatthana Samyutta, No. 14.
49.
This is according to the Commentary to the Ukkacela Sutta.


Chú Thích  

42.
Xem Maha-parinibbana Sutta, Ch. II (Những Ngày Cuối cùng của Đức Phật, Wheel No. 67/69, p. 26). Chính trong thời gian ở Beluva, Tôn Sư đã lâm trọng bệnh.
43.
Trong rặng Himalayas.
44.
Sariputta và các em trai và em gái của ông.
45.
Vangisa Samy., số 7.
46.
Satipatthana Samyutta, số 13.
47.
Cunda Samanuddesa. Chú giải: "Ông là em trai của Tôn giả Sariputta. Trước khi ông thọ giới bậc thượng, các tỳ khưu thường gọi ông là 'Sa-di Cunda,' và ngay cả khi là trưởng lão ông vẫn được gọi như vậy." (Xem phần II, mục Thân Quyến của Trưởng Lão.)
48.
Satipatthana Samyutta, số 14.
49.
Đây là theo Chú giải của Kinh Ukkacela.

50.
Milinda's Questions by I.B. Horner, Vol. I, p. 295. See also the chapter "Sariputta in the Jatakas" (Part V of this book).
51.
See "The Simile of the Cloth" (M. 7) in Wheel No. 61/62, p. 12.
52.
See Wheel No. 67/69, pp. 9f.
53.
Sariputta's method of teaching in this discourse invites comparison with the Buddha's in the Sigalovada Sutta (Digha Nikaya, 31).
54.
Bhilsa Topes, p. 300.
55.
The Cynosure of Sanchi, p. 28.

50.
Câu Hỏi của Milinda biên soạn bởi I.B. Horner, Vol. I, p. 295. Xem thêm chương "Sariputta trong Truyện Tiền Thân" (Phần V của quyển sách này).
51.
Xem "Kinh Ví dụ Tấm Vải" (M. 7) trong Wheel số 61/62, p. 12.
52.
Xem Wheel số 67/69, pp. 9f.
53.
Phương pháp giảng dạy của Sariputta trong bài kinh này gợi lên sự so sánh với phương pháp của Đức Phật trong Kinh Sigalovada (Digha Nikaya, 31).
54.
Bhilsa Topes, p. 300.
55.
The Cynosure of Sanchi, p. 28.

©1987 Buddhist Publication Society.
You may copy, reformat, reprint, republish, and redistribute this work in any medium whatsoever, provided that: (1) you only make such copies, etc. available free of charge and, in the case of reprinting, only in quantities of no more than 50 copies; (2) you clearly indicate that any derivatives of this work (including translations) are derived from this source document; and (3) you include the full text of this license in any copies or derivatives of this work. Otherwise, all rights reserved. Documents linked from this page may be subject to other restrictions. The Wheel Publication No. 90/92 (Kandy: Buddhist Publication Society, 1987). Transcribed from the print edition in 1994 by W.D. Savage under the auspices of the DharmaNet Dharma Book Transcription Project, with the kind permission of the Buddhist Publication Society. HTML formatting by Jill H. Button. Last revised for Access to Insight on 30 November 2013.
How to cite this document (a suggested style): "The Life of Sariputta", compiled and translated from the Pali texts by Nyanaponika Thera. Access to Insight (BCBS Edition), 30 November 2013, http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/nyanaponika/wheel090.html .

©1987 Buddhist Publication Society.
Quý vị có thể làm bản sao, thay đổi hình dạng, in lại, xuất bản lại, và phân phối lại công trình này dưới bất cứ phương tiện nào, với điều kiện: (1) quý vị chỉ làm các bản sao như vậ̣y, v.v., cung cấp miễn phí và, trong trường hợp in lại, chỉ với số lượng không quá 50 bản sao; (2) quý vị chỉ ra rõ ràng là bất kỳ dẫn xuất nào của công trình nghiên cứu này (bao gồm cả bản dịch) có nguồn gốc từ nguồn tài liệu này, và (3) quý vị bao gồm đầy đủ văn bản của giấy phép này trong bất kỳ bản sao hay các dẫn xuất của công việc này. Nếu không, phải tôn trọng bản quyền. Các tài liệu liên kết từ trang này có thể bị hạn chế. The Wheel Publication No. 90/92 (Kandy: Buddhist Publication Society, 1987). Chép lại từ bản in năm 1994 bởi W.D. Savage dưới sự bảo trợ của DharmaNet Dharm Book Transcription Projetc, với sự cho phép của Buddhist Publication Society. Chỉnh sửa cuối cho Access to Insight vào ngày 30 tháng 11 năm 2013.
Làm thế nào để trích dẫn tài liệu này (một đề nghị bút pháp): "The Life of Sariputta - Cuộc Đời của Tôn Giả Xá Lợi Phất", biên soạn và dịch từ các văn bản Pali bởi Nyanaponika Thera. Access to Insight (BCBS Edition), ngày 30 tháng 11 năm 2013,
http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/nyanaponika/wheel090.html .

 Chủ biên và điều hành: TT Thích Giác Đẳng.

  Những đóng góp dịch thuật xin gửi về TT Thích Giác Đẳng tại phamdang0308@gmail.com
Cập nhập ngày: Thứ Hai 10-12-2020

Kỹ thuật trình bày: Minh Hạnh & Thiện Pháp

 | Trang Trước| trở về đầu trang | Home page |