"Monks, this recitation of more than 150 training rules comes every fortnight, in reference to which sons of good families desiring the goal train themselves. [1] There are these three trainings under which all that is gathered. Which three? The training in heightened virtue, the training in heightened mind, the training in heightened discernment. [2]

"1. - Này các Tỷ-kheo, bản tụng đọc này gồm hơn 150 học giới cần phải đọc nửa tháng một lần, ở đây các người thiện nam tử muốn được lợi ích, học tập bản tụng ấy.. [1] Này các Tỷ-kheo, tất cả được thâu nhiếp làm thành ba học giới này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học. Chính ba học pháp này, này các Tỷ-kheo, thâu nhiếp tất cả. [2]

"There is the case where a monk is wholly accomplished in virtue, moderately accomplished in concentration, and moderately accomplished in discernment. With reference to the lesser and minor training rules, he falls into offenses and rehabilitates himself. Why is that? Because I have not declared that to be a disqualification in these circumstances. But as for the training rules that are basic to the holy life and proper to the holy life, he is one of permanent virtue, one of steadfast virtue. Having undertaken them, he trains in reference to the training rules.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì một phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học giới nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp.

"With the wasting away of [the first] three fetters, he is one who has seven more times at most. Having transmigrated and wandered on among devas and human beings, he will put an end to stress.

Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc tối đa phải sanh lại bảy lần. Sau khi sanh lại bảy lần, sau khi dong ruỗi, luân chuyển tối đa bảy lần giữa chư Thiên và loài người, liền đoạn tận khổ đau. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc "Gia gia", dong ruỗi, lưu chuyển trong hai hay ba gia đình, rồi đoạn tận khổ đau.

"[Or] he is one going from good family to good family [i.e., rebirth in the human realm or any of the deva realms]. Having transmigrated and wandered on among two or three good families, he will put an end to stress.

Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc "Gia gia", dong ruỗi, lưu chuyển trong hai hay ba gia đình, rồi đoạn tận khổ đau.

"[Or] he is one with one seed. Having arisen only once more in the human realm, he will put an end to stress.

Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc Nhất chủng, sau khi phải sanh hiện hữu làm người một lần, rồi đoạn tận khổ đau.

"[Or], with the wasting away of [the first] three fetters, and with the attenuation of passion, aversion, & delusion, he is a once-returner who — on returning only once more to this world — will put an end to stress.

Vị ấy do đoạn tận ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si là bậc Nhất lai, phải trở lui lại đời này chỉ một lần, rồi đoạn tận khổ đau.

"There is the case where a monk is wholly accomplished in virtue, wholly accomplished in concentration, and moderately accomplished in discernment. With reference to the lesser and minor training rules, he falls into offenses and rehabilitates himself. Why is that? Because I have not declared that to be a disqualification in these circumstances. But as for the training rules that are basic to the holy life and proper to the holy life, he is one of permanent virtue, one of steadfast virtue. Having undertaken them, he trains in reference to the training rules.

3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm ... chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Thượng lưu, đạt được Sắc cứu kính thiên.

"With the wasting away of the five lower fetters, he is one going upstream to the Peerless [the Akaniṭṭha heaven, the highest of the Pure Abodes.][3]

Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Thượng lưu, đạt được Sắc cứu kính thiên. Vị ấy, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Hữu hành Bát-Niết-bàn. [3]

"[Or], with the wasting away of the five lower fetters, he is one unbound with fabrication [of exertion].

Vị ấy, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Hữu hành Bát-Niết-bàn.

"[Or], with the wasting away of the five lower fetters, he is one unbound without fabrication [of exertion].

Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Vô hành Bát-Niết-bàn.

"[Or], with the wasting away of the five lower fetters, he is one unbound on arrival [in a Pure Abode]. [4]

Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Tổn hại Bát-Niết-Bàn . [4]

"[Or], with the wasting away of the five lower fetters, he is one unbound in between.

Vị ấy do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Trung gian Bát-Niết-bàn.

"There is the case where a monk is wholly accomplished in virtue, wholly accomplished in concentration, wholly accomplished in discernment. With reference to the lesser and minor training rules, he falls into offenses and rehabilitates himself. Why is that? Because I have not declared that to be a disqualification in these circumstances. But as for the training rules that are basic to the holy life and proper to the holy life, he is one of permanent virtue, one of steadfast virtue. Having undertaken them, he trains in reference to the training rules. With the ending of effluents, he dwells in the effluent-free awareness-release and discernment-release, having directly known and realized them for himself right in the here-and-now.

4. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì toàn phần. Vị ấy có vi phạm ... chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

"Those who are partially accomplished attain a part; those who are wholly accomplished, the whole. The training rules, I tell you, are not in vain."

Như vậy, này các Tỷ-kheo, người hành trì có một phần, thành tựu được một phần; người hành trì toàn phần, thành tựu được toàn phần. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các học giới không phải là rỗng không.

Notes

1.
This statement refers to the Pāṭimokkha recitation, which contains 227 rules. Some have argued that this statement is proof that the Pāṭimokkha currently contains some rules that it did not contain in the Buddha's time. However, this assertion ignores two points: (a) The sutta texts are notoriously vague about large numbers, and — given their manner in reporting large numbers — "more than 150" could cover anything from 150 to 250 rules. (b) The Buddha added rules to the Pāṭimokkha over the course of many years. This sutta may have taken place earlier in his life before the Pāṭimokkha had reached its current size.
2.
For definitions of these trainings, see AN 3.88.
3.
According to the Commentary, this category of non-returner first appears spontaneously in any of the first four levels of the five Pure Abodes — among the Aviha (Not Falling Away) devas, the Atappa (Untroubled) devas, the Sudassa (Good-looking) devas, or the Sudassī (Clear-seeing) devas — and then appears spontaneously in progressively higher levels until reaching the highest, the Akaniṭṭha (Peerless) Pure Abode, there to be unbound.
4.

The Commentary defines this category and the following one with this example: Suppose that a non-returner appears spontaneously in the Aviha (Not Falling Away) Pure Abode, where the lifespan is 1,000 eons. If he/she attains unbinding after the first 100 eons, he/she is classed as one unbound on arrival. If he/she attains unbinding anywhere from between the first day in that Pure Abode up through the first 400 eons, he/she is classed as one unbound in between. For a non-returner appearing spontaneously in any of the higher Pure Abodes, where the lifespans get progressively longer, the same proportions would hold.

This way of classifying these two categories, however, doesn't make much sense for two reasons. (a) The sutta lists the categories in ascending order, and there's little reason to class one who takes 400 eons to attain unbinding higher than one who takes only 100 eons to do so. (b) The second category actually includes the first, so there would seem to be little reason to distinguish them as two separate categories.

It would make better sense to define the categories this way: One who attains unbinding relatively soon after arriving in a Pure Abode is one unbound on arrival. One who attains unbinding after leaving the human realm but before reaching a Pure Abode would be one unbound in between.

Notes

1.
Đoạn kinh này đề cập đến sự trì tụng giới bổn Pāṭimokkha, bao gồm 227 quy luật. Một số người cho rằng đoạn kinh này là bằng chứng cho thấy giới bổn Pāṭimokkha có một số quy luật không có trong thời Đức Phật. Tuy nhiên, giả thuyết này bỏ qua hai điểm: (a) Các bản kinh nổi tiếng số lượng lớn không rõ ràng, và - với số lượng lớn - "hơn 150" có thể bao hàm bất cứ điều gì từ 150 đến 250 quy luật. (b) Đức Phật đã thêm các quy luật vào giới bổn Pāṭimokkha trong suốt nhiều năm. Bài kinh này có thể đã diễn ra sớm hơn trong cuộc đời của ngài trước khi giới bổn Pāṭimokkha đạt đến số lượng hiện tại.
2.
For definitions of these trainings, see AN 3.88.
3.
According to the Commentary, this category of non-returner first appears spontaneously in any of the first four levels of the five Pure Abodes — among the Aviha (Not Falling Away) devas, the Atappa (Untroubled) devas, the Sudassa (Good-looking) devas, or the Sudassī (Clear-seeing) devas — and then appears spontaneously in progressively higher levels until reaching the highest, the Akaniṭṭha (Peerless) Pure Abode, there to be unbound
4.

The Commentary defines this category and the following one with this example: Suppose that a non-returner appears spontaneously in the Aviha (Not Falling Away) Pure Abode, where the lifespan is 1,000 eons. If he/she attains unbinding after the first 100 eons, he/she is classed as one unbound on arrival. If he/she attains unbinding anywhere from between the first day in that Pure Abode up through the first 400 eons, he/she is classed as one unbound in between. For a non-returner appearing spontaneously in any of the higher Pure Abodes, where the lifespans get progressively longer, the same proportions would hold.

This way of classifying these two categories, however, doesn't make much sense for two reasons. (a) The sutta lists the categories in ascending order, and there's little reason to class one who takes 400 eons to attain unbinding higher than one who takes only 100 eons to do so. (b) The second category actually includes the first, so there would seem to be little reason to distinguish them as two separate categories.

It would make better sense to define the categories this way: One who attains unbinding relatively soon after arriving in a Pure Abode is one unbound on arrival. One who attains unbinding after leaving the human realm but before reaching a Pure Abode would be one unbound in between.

See also: AN 3.83,

See also: AN 3.83,

 Chủ biên và điều hành: TT Thích Giác Đẳng.

  Những đóng góp dịch thuật xin gửi về TT Thích Giác Đẳng tại phamdang0308@gmail.com
Cập nhập ngày: Thứ Tư 04-11-2020

Trách nhiệm kỹ thuật trình bày: Minh Hạnh & Thiện Pháp, Thủy Tú & Phạm Cương

 | | trở về đầu trang | Home page |