so i have heard. At one time the Buddha was wandering in the land of the Kosalans together with a large Saṅgha of around five hundred mendicants when he arrived at a village of the Kosalan brahmins named Icchānaṅgala. He stayed in a forest near Icchānaṅgala.

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang du hành tại nước Kosala (Câu-tát-la), cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và đến tại một làng Bà-la-môn ở Kosala tên là Icchànankala. Tại đây, Thế Tôn ở tại Icchànankala trong khu rừng tên là Icchànankala.

. The Section on Pokkharasāti

Now at that time the brahmin Pokkharasāti was living in Ukkaṭṭhā. It was a crown property given by King Pasenadi of Kosala, teeming with living creatures, full of hay, wood, water, and grain, a royal endowment of the highest quality. Pokkharasāti heard:

. The Section on Pokkharasāti

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi ở tại Ukkattha, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, ngũ cốc phong phú, vốn là đất đai của vua, sau vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) cấp cho để hưởng một phần lợi tức.

“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—has arrived at Icchānaṅgala and is staying in a forest nearby. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those who wish to train, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras and Brahmās, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. It’s good to see such perfected ones.”

2. Bà-la-môn Pokkharasàdi nghe đồn: Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca, nay đang du hành tại nước Kosala, cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đã đến Icchànankala, ở tại Icchànankala trong khu rừng tên là Icchànankala. Những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: "Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài đã tự chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết, Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Nếu được yết kiến một vị A-la-hán như vậy thì rất quý".

2. The Brahmin Student Ambaṭṭha

Now at that time Pokkharasāti had a student named Ambaṭṭha. He was one who recited and remembered the hymns, and had mastered in the three Vedas, together with their vocabularies, ritual, phonology and etymology, and the testament as fifth. He knew philology and grammar, and was well versed in cosmology and the marks of a great man. He had been authorized as a master in his own teacher’s scriptural heritage of the three Vedas with the words: “What I know, you know. And what you know, I know.”

2. The Brahmin Student Ambaṭṭha

3. Lúc bấy giờ, thanh niên Ambattha (A-ma-trú) là đệ tử của Bà-la-môn Pokkharasàdi, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì chú thuật, tinh thông ba tập Vệ đà với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Vị này độc đáo về ba minh và được công nhận như vậy khiến các thân giáo sư phải nói: "Ðiều gì ta biết, ngươi cũng biết; điều gì ngươi biết, ta cũng biết".

Then Pokkharasāti addressed Ambaṭṭha, “Dear Ambaṭṭha, the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—has arrived at Icchānaṅgala and is staying in a forest nearby. … It’s good to see such perfected ones. Please, dear Ambaṭṭha, go to the ascetic Gotama and find out whether or not he lives up to his reputation. Through you I shall learn about Master Gotama.”

4. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Pokkharasàdi nói với thanh niên Ambattha: "Này Ambattha thân yêu, Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca, nay đang du hành tại nước Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đã đến tại Icchànankala trú tại Icchànankala. Những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: "Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, ... Phật, Thế Tôn. Ngài đã chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Nếu được yết kiến một vị A-la-hán như vậy thì rất quý". Này Ambattha thân yêu, hãy đi đến gặp Sa-môn Gotama, và tìm hiểu lời đồn về Tôn giả Gotama là như vậy hay không phải như vậy. Nhờ vậy, chúng ta sẽ được biết về Tôn giả Gotama".

“But sir, how shall I find out whether or not the ascetic Gotama lives up to his reputation?”

5. - Làm thế nào con được biết về Tôn giả Gotama, được biết lời đồn về Tôn giả Gotama như vậy là đúng hay không, có phải Tôn giả Gotama là như vậy, hay không phải như vậy?

“Dear Ambaṭṭha, the thirty-two marks of a great man have been handed down in our hymns. A great man who possesses these has only two possible destinies, no other. If he stays at home he becomes a king, a wheel-turning monarch, a just and principled king. His dominion extends to all four sides, he achieves stability in the country, and he possesses the seven treasures. He has the following seven treasures: the wheel, the elephant, the horse, the jewel, the woman, the treasurer, and the counselor as the seventh treasure. He has over a thousand sons who are valiant and heroic, crushing the armies of his enemies. After conquering this land girt by sea, he reigns by principle, without rod or sword. But if he goes forth from the lay life to homelessness, he becomes a perfected one, a fully awakened Buddha, who draws back the veil from the world. But, dear Ambaṭṭha, I am the one who gives the hymns, and you are the one who receives them.”

- Ambattha thân yêu, theo truyền thống của chúng ta về ba mươi hai tướng của vị đại nhân, những ai có ba mươi hai tướng ấy sẽ chọn trong hai con đường, không có đường nào khác. Nếu là tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc độ, đầy đủ bảy châu báu. Bảy món báu này là xe báu, voi báu, ngựa báu, ma ni báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Và vị này có hơn một ngàn con trai, là những vị anh hùng, oai phong lẫm liệt, chiến thắng ngoại quân. Vị này sống, thống lãnh quả đất cùng tận cho đến đại dương, và trị vì với chánh pháp, không dùng gậy, không dùng dao. Nếu vị này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị này sẽ chứng quả A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quét sạch mê lầm ở đời. Này Ambattha thân yêu, ta đã cho con chú thuật. Con đã nhận những chú thuật ấy.

“Yes, sir,” replied Ambaṭṭha. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled Pokkharasāti, keeping him to his right. He mounted a mare-drawn chariot and, together with several students, set out for the forest near Icchānaṅgala. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and entered the monastery on foot.

6. - Thưa vâng. Thanh niên Ambattha vâng theo lời của Bà-la-môn Pokkharasàdi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Bà-la-môn Pokkharasàdi, hướng thân về phía hữu, cỡi xe ngựa cái và cùng một số đông thanh niên khác đi đến khu rừng Icchànankala. Ði xe đến chỗ không còn đi được xe, Ambattha liền xuống xe đi bộ và đến tại tịnh xá.

At that time several mendicants were walking meditation in the open air. Then the student Ambaṭṭha went up to those mendicants and said, “Gentlemen, where is Master Gotama at present? For we have come here to see him.”

7. Lúc bấy giờ một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Thanh niên Ambattha liền đến các Tỷ-kheo ấy và hỏi: "Các Hiền giả, nay Tôn gả Gotama ở tại chỗ nào? Chúng tôi đến đây để yết kiến Tôn giả Gotama".

Then those mendicants thought, “This Ambaṭṭha is from a well-known family, and he is the pupil of the well-known brahmin Pokkharasāti. The Buddha won’t mind having a discussion together with such gentlemen.”

8. Các Tỷ-kheo liền nghĩ: "Thanh niên Ambattha này thuộc một gia đình có danh tiếng, là đệ tử của Bà-la-môn Pokkharasàdi, một vị cũng có danh tiếng. Một cuộc đối thoại như vậy giữa Thế Tôn và con một quý tộc như vậy, không có khó khăn gì".

They said to Ambaṭṭha, “Ambaṭṭha, that’s his dwelling, with the door closed. Approach it quietly, without hurrying; go onto the porch, clear your throat, and knock with the latch. The Buddha will open the door.”

Những Tỷ-kheo ấy nói với thanh niên Ambattha: "Này Ambattha, tịnh xá đóng cửa kia là chỗ ở của Ngài. Hãy đến đó một cách yên lặng, không vượt qua hành lang, đằng hắng và gõ vào thanh cửa, Thế Tôn sẽ mở cửa cho ông".^

So he approached the Buddha’s dwelling and knocked, and the Buddha opened the door. Ambaṭṭha and the other students entered the dwelling. The other students exchanged greetings with the Buddha, and when the greetings and polite conversation were over, sat down to one side. But while the Buddha was sitting, Ambaṭṭha spoke some polite words or other while walking around or standing.

9. Thanh niên Ambattha liền đi đến tịnh xá đóng cửa ấy một cách yên lặng, không vượt quá hành lang, đằng hắng và gõ vào thanh cửa. Thế Tôn mở cửa và thanh niên Ambattha bước vào. Các thanh niên khác cũng bước theo, nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên, còn thanh niên Ambattha thời đi qua đi lại, thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Thế Tôn đang ngồi, hay đứng lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Thế Tôn đang ngồi.

So the Buddha said to him, “Ambaṭṭha, is this how you hold a discussion with elderly and senior brahmins, the teachers of teachers: walking around or standing while I’m sitting, speaking some polite words or other?”

10. Lúc bấy giờ Thế Tôn nói với thanh niên Ambattha: - Có phải, đối với các bậc Bà-la-môn trưởng lão, đứng tuổi, các bậc giáo sư và tổ sư, ngươi cũng nói chuyện như vậy, như ngươi đã đi qua lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Ta đang ngồi, hay đứng lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Ta đang ngồi?

2.1. The First Use of the Word “Riffraff”

“No, Master Gotama. For it is proper for one brahmin to converse with another while both are walking, standing, sitting, or lying down. But as to these shavelings, fake ascetics, riffraff, black spawn from the feet of our Kinsman, I converse with them as I do with Master Gotama.”

2.1. Lần thứ nhất dùng chữ “đê tiện”

- Không phải vậy, này Gotama. Phải đi mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang đi. Phải đứng mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang đứng. Phải ngồi mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang ngồi. Phải nằm mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang nằm. Chỉ với những vị Sa-môn hèn hạ, trọc đầu, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân của bà con ta, thì ta mới nói chuyện như vậy, như với ngươi, Gotama".

“But Ambaṭṭha, you must have come here for some purpose. You should focus on that. Though this Ambaṭṭha is unqualified, he thinks he’s qualified. What is that but lack of qualifications?”

11. - Này Ambattha, hình như ngươi đến đây với một ý định gì? Ngươi hãy khéo tác ý đến mục đích đã đưa ngươi đến đây. Thanh niên Ambattha này thật vô giáo dục, dầu nó tự cho là có giáo dục. Như vậy là vô giáo dục, có gì khác nữa!

When he said this, Ambaṭṭha became angry and upset with the Buddha because of being described as unqualified. He even attacked and badmouthed the Buddha himself, saying, “The ascetic Gotama will be worsted!” He said to the Buddha, “Master Gotama, the Sakyan clan are rude, harsh, touchy, and argumentative. Riffraff they are, and riffraff they remain! They don’t honor, respect, revere, worship, or venerate brahmins. It is neither proper nor appropriate that the Sakyans—riffraff that they are—don’t honor, respect, revere, worship, or venerate brahmins.”

12. Thanh niên Ambattha bị Thế Tôn gọi là vô giáo dục như vậy, liền phẫn nộ, tức tối, muốn nhục mạ Thế Tôn, phỉ báng Thế Tôn, công kích Thế Tôn, và nghĩ: "Sa-môn Gotama có ác ý đối với ta", liền nói với Thế Tôn:- Này Gotama, thô bạo là dòng họ Thích ca; này Gotama, ác độc là dòng họ Thích ca; này Gotama, khinh suất là dòng họ Thích ca; này Gotama hung dữ là dòng họ Thích ca. Là đê tiện, thuộc thành phần đê tiện, dòng họ Thích ca không kính nhường Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn . Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp, khi dòng họ Thích ca này, những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn .

And that’s how Ambaṭṭha denigrated the Sakyans with the word “riffraff” for the first time.

Như vậy, thanh niên Ambattha lần đầu tiên đã buộc tội dòng họ Thích ca là đê tiện.

2.2. The Second Use of the Word “Riffraff”

“But Ambaṭṭha, how have the Sakyans wronged you?”

“This one time, Master Gotama, my teacher, the brahmin Pokkharasāti, went to Kapilavatthu on some business. He approached the Sakyans in their meeting hall. Now at that time several Sakyans and Sakyan princes were sitting on high seats, poking each other with their fingers, giggling and playing together. In fact, they even presumed to giggle at me, and didn’t invite me to a seat. It is neither proper nor appropriate that the Sakyans—riffraff that they are—don’t honor, respect, revere, worship, or venerate brahmins.”

And that’s how Ambaṭṭha denigrated the Sakyans with the word “riffraff” for the second time.

2.2. Lần thứ hai xử dụng chữ “đê tiện”

13. - Này Ambattha, dòng họ Thích ca đã làm gì phật lòng ngươi?

- Này Gotama, một thời ta đi đến Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) có việc phải làm cho thầy ta là Bà-la-môn Pokkharasàdi, và đến tại công hội trường của dòng họ Thích. Lúc bấy giờ một số đông dòng họ Thích ca và thanh niên Thích ca đang ngồi trên ghế cao tại công hội trường. Chúng cười với nhau, dùng ngón tay thọc cù nôn với nhau, ta nghĩ chắc chắn ta là mục tiêu cho chúng đùa giỡn với nhau, lại không ai mời ta ngồi. Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp, khi chúng Thích ca này là những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn .

Như vậy thanh niên Ambattha lần thứ hai đã buộc tội dòng họ Thích ca là đê tiện.

2.3. The Third Use of the Word “Riffraff”

“Even a little quail, Ambaṭṭha, speaks as she likes in her own nest. Kapilavatthu is the Sakyans own place, Ambaṭṭha. It’s not worthy of the Venerable Ambaṭṭha to lose his temper over such a small thing.”

2.3. Lần thứ ba dùng chữ “đê tiện”

14. - Này Ambattha, cũng như con chim cáy, con chim cáy con có thể tự hát thỏa thích trong tổ của nó. Này Ambattha, Kapilavatthu thuộc dòng họ Thích ca. Thật không xứng để cho Ambattha phải phật lòng vì một vấn đề nhỏ mọn này.

“Master Gotama, there are these four castes: aristocrats, brahmins, merchants, and workers. Three of these castes—aristocrats, merchants, and workers—in fact succeed only in serving the brahmins. It is neither proper nor appropriate that the Sakyans—riffraff that they are—don’t honor, respect, revere, worship, or venerate brahmins.”

And that’s how Ambaṭṭha denigrated the Sakyans with the word “riffraff” for the third time.

15. - Này Gotama, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá và Thủ-đà-la. Này Gotama, trong bốn giai cấp này, ba giai cấp Sát-đế-lỵ, Phệ-xá và Thủ-đà-la là để hầu hạ hạng Bà-la-môn . Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp khi chúng Thích-ca này là những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện, lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn .

Như vậy, thanh niên Ambattha lần thứ ba đã buộc tội dòng họ Thích ca là đê tiện.

2.4. The Word “Son of Bondservants” is Used

Then it occurred to the Buddha, “This Ambaṭṭha puts the Sakyans down too much by calling them riffraff. Why don’t I ask him about his own clan?”

So the Buddha said to him, “What is your clan, Ambaṭṭha?”

2.4. Từ “con trai của tỳ nữ” được sử dụng

16. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ: "Thanh niên Ambattha này đã phỉ báng dòng họ Thích-ca đê tiện một cách quá đáng. Nay ta phải hỏi dòng họ của nó".

Rồi Thế Tôn hỏi thanh niên Ambattha:

- Dòng họ ngươi là gì?

I am a Kaṇhāyana, Master Gotama.”

“But, recollecting the ancient name and clan of your mother and father, the Sakyans were the children of the masters, while you’re descended from the son of a female bondservant of the Sakyans. But the Sakyans claim King Okkāka as their grandfather.

- Này Gotama, dòng họ ta là Kanhàyana.

- Này Ambattha, nếu theo phụ mẫu hệ của ngươi về quá khứ, thời dòng họ Thích ca là thầy của ngươi. Và ngươi là con của một nữ tỳ của dòng họ Thích ca. Này thanh niên Ambattha, tổ tiên của Thích ca là vua Okkàka.

Once upon a time, King Okkāka, wishing to divert the royal succession to the son of his most beloved queen, banished the elder princes from the realm—Okkāmukha, Karakaṇḍa, Hatthinika, and Sinisūra. They made their home beside a lotus pond on the slopes of the Himalayas, where there was a large teak grove. For fear of diluting their lineage, they slept with their own sisters.

Thuở xưa, này Ambattha, vua Okkàka muốn trao vương vị cho hoàng tử con bà hoàng hậu chính mà vua thương yêu, bèn đuổi ra khỏi nước những người con đầu của mình là Okkàmukha, Karandu, Hatthiniya, Sinipura. Bị tẩn xuất khỏi nước, những hoàng tử này đến sống tại một khu rừng lớn bên một hồ nước, trên sườn núi Hy-mã-lạp sơn. Vì sợ huyết thống của mình bị lẫn lộn với huyết thống khác, các vị hoàng tử này ăn nằm với những người chị của mình.

Then King Okkāka addressed his ministers and counselors, ‘Where, sirs, have the princes settled now?’

- Này Ambattha, một hôm vua Okkàka nói với vị đại thần tùy tùng: "Này các khanh, các hoàng tử hiện nay ở đâu?"

‘Sire, there is a lotus pond on the slopes of the Himalayas, by a large grove of sāka, the teak tree. They’ve settled there. For fear of diluting their lineage, they are sleeping with their own (saka) sisters.’

- "Bạch Ðại vương, có một khu rừng lớn, bên một hồ nước trên sườn núi Hy-mã-lạp-sơn. Nay các hoàng tử ở tại chỗ ấy. Các hoàng tử, vì sợ huyết thống của mình lẫn lộn huyết thống khác nên ăn nằm với những người chị của mình".

Then, Ambaṭṭha, King Okkāka was inspired to exclaim: ‘The princes are indeed Sakyans! The princes are indeed the best Sakyans!’ From that day on the Sakyans were recognized, and he was their founder.

- Này Ambattha, vua Okkàka liền cảm hứng thốt lời tụng hân hoan: "Các hoàng tử thật là những Sakya (cứng như lõi cây sồi), các hoàng tử thật là những Sakya xuất chúng". Này Ambattha, từ đó trở đi, các hoàng tử được gọi là Sakya và vua Okkàka là vua tổ của dòng họ Thích-ca.

Now, King Okkāka had a female bondservant named Disā. She gave birth to a black boy. When he was born, Black Boy said: ‘Wash me, mum, bathe me! Get this filth off of me! I will be useful for you!’ Whereas these days when people see goblins they know them as goblins, in those days they knew goblins as ‘blackboys’

Này Ambattha, vua ấy có một nữ tỳ lên là Disà. Nữ tỳ này sinh hạ một người con da đen. Vừa mới sinh, Kanha liền nói: "Này mẹ, hãy rửa cho con; này mẹ hãy tắm cho con; này mẹ hãy gội sạch đồ bất tịnh này. Và con sẽ giúp ích cho mẹ". Này Ambattha, vì người ta gọi những ác quỷ là ác quỷ nên người ta cũng gọi Kanhà là ác quỷ.

They said: ‘He spoke as soon as he was born—a blackboy is born! A goblin is born!’ From that day on the Kaṇhāyanas were recognized, and he was their founder. That’s how, recollecting the ancient name and clan of your mother and father, the Sakyans were the children of the masters, while you’re descended from the son of a female bondservant of the Sakyans.”

Chúng nói như thế này: "Ðứa trẻ này, vừa mới sanh đã nói. Một Kanha vừa mới sanh". Này Ambattha, từ đó trở đi chữ Kanhàyanà được biết đến. Và Kanha là tổ phụ của dòng họ Kanhàyana. Này Ambattha, nếu theo phụ mẫu hệ của ngươi về quá khứ, thời dòng họ Thích-ca là thầy của ngươi, và ngươi là con một nữ tỳ của dòng họ Thích ca.

When he said this, those students said to him, “Master Gotama, please don’t put Ambaṭṭha down too much by calling him the son of a bondservant. He’s well-born, a gentleman, learned, a good speaker, and astute. He’s capable of having a dialogue with Master Gotama about this.”

17. Khi Thế Tôn nói vậy, những thanh niên nói với Thế Tôn: - Này Gotama, chớ có phỉ báng quá đáng thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ. Này Gotama, thanh niên Ambattha sinh vào quý tộc, thanh niên Ambattha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha là bậc đa văn, thanh niên Ambattha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha là nhà bác học, thanh niên Ambattha có thể biện luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này.

So the Buddha said to them, “Well, students, if you think that Ambaṭṭha is ill-born, not a gentleman, uneducated, a poor speaker, witless, and not capable of having a dialogue with me about this, then leave him aside and you can have a dialogue with me. But if you think that he’s well-born, a gentleman, learned, a good speaker, astute, and capable of having a dialogue with me about this, then you should stand aside and let him have a dialogue with me.”

18. Thế Tôn liền nói với những thanh niên ấy. - Nếu những thanh niên các ngươi nghĩ: "Thanh niên Ambattha không được sanh vào quý tộc, thanh niên Ambattha không thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha không phải là bậc đa văn, thanh niên Ambattha không phải là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha không phải là nhà bác học, thanh niên Ambattha không thể biện luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này", thời thanh niên Ambattha hãy đứng ra một bên và để các thanh niên biện luận với Ta về vấn đề này. Nếu các ngươi nghĩ: "Thanh niên Ambattha được sanh vào quý tộc, thanh niên Ambattha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha là bậc đa văn, thanh niên Ambattha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha là nhà bác học, thanh niên Ambattha có thể biện luận với Gotama về vấn đề này", thời các ngươi hãy đứng ra một bên và để thanh niên Ambattha biện luận với ta về vấn đề này.

“He is capable of having a dialogue. We will be silent, and let Ambaṭṭha have a dialogue with Master Gotama.”

19. - Này Gotama, thanh niên Ambattha được sanh vào quý tộc, thanh niên Ambattha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha là bậc đa văn, thanh niên Ambattha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha là nhà bác học, thanh niên Ambattha có thể biện luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này. Chúng tôi sẽ đứng im lặng. Thanh niên Ambattha sẽ cùng với Gotama biện luận về vấn đề này.

So the Buddha said to Ambaṭṭha, “Well, Ambaṭṭha, there’s a legitimate question that comes up. You won’t like it, but you ought to answer anyway. If you don’t answer, but dodge the issue, remain silent, or simply leave, your head will explode into seven pieces right here. What do you think, Ambaṭṭha? According to what you have heard from elderly and senior brahmins, the teachers of teachers, what is the origin of the Kaṇhāyanas, and who is their founder?”

20. Thế Tôn liền nói với thanh niên Ambattha: - Này Ambattha, câu hỏi hợp lý này được đem ra hỏi ngươi dầu không muốn, ngươi cũng phải trả lời. Nếu ngươi không trả lời, hoặc trả lời tránh qua một vấn đề khác, hoặc giữ im lặng, hoặc bỏ đi, thời ngay tại chỗ, đầu ngươi sẽ bị bể ra làm bảy mảnh. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các Bà-la-môn, trưởng lão, tôn túc, giáo sư và tổ sư nói đến nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà?

When he said this, Ambaṭṭha kept silent. For a second time, the Buddha put the question, and for a second time Ambaṭṭha kept silent.

Nghe nói vậy thanh niên Ambattha giữ im lặng. Lần thứ hai Thế Tôn nói với thanh niên Ambattha: - Này Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà? Lần thứ hai thanh niên Ambattha giữ im lặng.

So the Buddha said to him, “Answer now, Ambaṭṭha. Now is not the time for silence. If someone fails to answer a legitimate question when asked three times by the Buddha, their head explodes into seven pieces there and then.”

Thế Tôn lại nói với thanh niên Ambattha: - Ambattha, nay ngươi phải trả lời, nay không phải thời ngươi giữ im lặng nữa. Này Ambattha ai được Thế Tôn hỏi đến lần thứ ba một câu hỏi hợp lý mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ.

Now at that time the spirit Vajirapāṇi, holding a massive iron spear, burning, blazing, and glowing, stood in the sky above Ambaṭṭha, thinking, “If this Ambaṭṭha doesn’t answer when asked a third time, I’ll blow his head into seven pieces there and then!” And both the Buddha and Ambaṭṭha could see Vajirapāṇi.

^21. Lúc bấy giờ, thần Dạ xoa Vajirapàni đang cầm một chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói đứng trên đầu của thanh niên Ambattha với ý định: "Nếu Thế Tôn hỏi đến lần thứ ba, một câu hỏi hợp lý mà thanh niên Ambattha không trả lời, thời ta sẽ đánh bể đầu nó ra làm bảy mảnh". Chỉ có Thế Tôn và thanh niên Ambattha mới thấy thần Dạ xoa Vajirapàni.

Ambaṭṭha was terrified, shocked, and awestruck. Looking to the Buddha for shelter, protection, and refuge, he sat down close by the Buddha and said, “What did you say? Please repeat the question.”

Thanh niên Ambattha thấy vị thần ấy liền sợ hãi, hoảng hốt, lông dựng ngược, chỉ tìm sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ tìm sự hỗ trợ nơi Thế Tôn, liền cúi rạp mình xuống và bạch Thế Tôn:- Tôn giả Gotama đã nói gì? Mong Tôn giả Gotama nói lại cho.

“What do you think, Ambaṭṭha? According to what you have heard from elderly and senior brahmins, the teachers of teachers, what is the origin of the Kaṇhāyanas, and who is their founder?”

- Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các vị Bà-la-môn, trưởng lão, tôn túc, giáo sư và tổ sư nói đến nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà?

“I have heard, Master Gotama, that it is just as you say. That’s the origin of the Kaṇhāyanas, and that’s who their founder is.”

- Tôn giả Gotama, con đã có nghe, đúng như Tôn giả Gotama đã nói. Chính từ đó nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà. Vị ấy là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà.

2.5. The Discussion of Ambaṭṭha’s Heritage

When he said this, those students made an uproar, “It turns out Ambaṭṭha is ill-born, not a gentleman, son of a Sakyan bondservant, and that the Sakyans are sons of his masters! And it seems that the ascetic Gotama spoke only the truth, though we presumed to rebuke him!”

2.5. Thảo luận về Di sản của Ambaṭṭha

22. Khi nghe nói vậy, các thanh niên liền la hét lớn: - Người ta nói thanh niên Ambattha là tiện sanh, người ta nói thanh niên Ambattha là con dòng không phải quý phái; người ta nói thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ của dòng họ Thích-ca; người ta nói dòng họ Thích-ca là chủ của thanh niên Ambattha. Chúng tôi không nghĩ rằng Sa-môn Gotama mà lời nói bao giờ cũng chân thực, lại không phải là người có thể tin được.

Then it occurred to the Buddha, “These students put Ambaṭṭha down too much by calling him the son of a bondservant. Why don’t I get him out of this?”

23. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ rằng: "Các thanh niên đã phỉ báng quá đáng thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ rồi. Nay Ta hãy giải tỏa cho Ambattha".

So the Buddha said to the students, “Students, please don’t put Ambaṭṭha down too much by calling him the son of a bondservant. That Black Boy was an eminent sage. He went to a southern country and memorized the Prime Spell. Then he approached King Okkāka and asked for the hand of his daughter Maddarūpī.

Rồi Thế Tôn nói với các thanh niên:- Các thanh niên, các ngươi chớ có phỉ báng quá đáng thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ. Kanha ấy trở thành một tu sĩ vĩ đại. Vị này đi về miền Nam, học các chú thuật Phạm thiên, rồi về yết kiến vua Okkàka và yêu cầu gả công chúa Khuddarùpi cho mình.

The king said to him, ‘Who the hell is this son of a bondservant to ask for the hand of my daughter!’ Angry and upset he fastened a razor-tipped arrow. But he wasn’t able to either shoot it or to relax it.

Vua Okkàka vừa giận, vừa tức, mắng rằng: "Ngươi là ai, con đứa nữ tỳ của ta mà dám xin con gái Khuddarùpi của ta", và vua liền lắp tên vào cung. Nhưng vua không thể bắn tên đi, cũng không thể cất mũi tên xuống.

Then the ministers and counselors approached the sage Black Boy and said: ‘Spare the king, sir, spare him!’

Khi bấy giờ, các thanh niên thị giả, các đại thần và tùy tùng đến thưa với ẩn sĩ Kanhà: - "Ðại đức, hãy để cho vua an toàn! Ðại đức, hãy để cho vua được an toàn!"

‘The king will be safe. But if he shoots the arrow downwards, there will be an earthquake across the entire realm.’

- "Nhà vua sẽ được an toàn, và nếu nhà vua bắn mũi tên xuống đất, thời toàn thể quốc độ nhà vua sẽ bị hạn, khô héo!"

‘Spare the king, sir, and spare the country!’

- "Ðại đức hãy để cho vua được an toàn! Hãy để cho quốc độ được an toàn!"

‘Both king and country will be safe. But if he shoots the arrow upwards, there will be no rain in the entire realm for seven years.’

- "Nhà vua sẽ được an toàn, quốc độ sẽ được an toàn! Nhưng nếu nhà vua bắn tên lên trời, thời toàn thể quốc độ sẽ không mưa trong bảy năm!"

Spare the king, sir, spare the country, and let there be rain!’

- "Ðại đức, hãy để cho nhà vua được an toàn, hãy để cho quốc độ được an toàn! Và hãy để cho trời mưa!"

‘Both king and country will be safe, and the rain will fall. And if the king aims the arrow at the crown prince, he will be safe and untouched.’

- "Nhà vua sẽ được an toàn, quốc độ sẽ được an toàn và trời sẽ mưa. Nhưng vua hãy nhắm cây cung đến phía thái tử. Một sợi lông của thái tử cũng sẽ được an toàn!

So the ministers said to Okkāka: ‘Okkāka must aim the arrow at the crown prince. He will be safe and untouched.’

Khi bấy giờ, các thị giả trẻ tuổi, các đại thần nói với Okkàka: "Okkàka hãy nhắm cây cung đến phía thái tử. Một sợi lông của thái tử sẽ được an toàn".

So King Okkāka aimed the arrow at the crown prince. And he was safe and untouched. Then the king was terrified, shocked, and awestruck. Scared by the prime punishment, he gave the hand of his daughter Maddarūpī.

Vua Okkàka nhắm cây cung đến phía thái tử và một sợi lông của thái tử cũng được an toàn. Vua Okkàka hoảng sợ, khiếp đảm sự trừng phạt, thuận cho con gái Khuddàrùpi.

Students, please don’t put Ambaṭṭha down too much by calling him the son of a bondservant. That Black Boy was an eminent sage.”

Này các thanh niên, chớ có phỉ báng thanh niên Ambattha một cách quá đáng là con của một nữ tỳ. Kanha là một vị ẩn sĩ vĩ đại.

3. The Supremacy of the Aristocrats

Then the Buddha addressed Ambaṭṭha, “What do you think, Ambaṭṭha? Suppose an aristocrat boy was to sleep with a brahmin girl, and they had a son. Would he receive a seat and water from the brahmins?”

“He would, Master Gotama.”

3. Quyền lực tối cao của quý tộc

24. Khi bấy giờ, Như Lai nói với thanh niên Ambattha: - Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Một thanh niên Sát-đế-lỵ cưới một thiếu nữ Bà-la-môn . Do sự sum họp ấy, một người con trai được sinh. Một người sanh từ một thanh niên Sát-đế-lỵ và một thiếu nữ Bà-la-môn có thể thọ lãnh chỗ ngồi hay nước giữa những người Bà-la-môn không?

- Tôn giả Gotama, có thể thọ lãnh.

“And would the brahmins feed him at an offering of food for ancestors, an offering of a dish of milk-rice, a sacrifice, or a feast for guests?”

“They would.”

- Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết hay dùng món đồ ăn cúng dường, hay đồ ăn cúng cho thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?

- Tôn giả Gotama, có mời.

“And would the brahmins teach him the hymns or not?”

“They would.”

- Và những người Bà-la-môn có dạy các chú thuật hay không?

- Tôn giả Gotama, có dạy.

“And would he be kept from the women or not?” “He would not.”

- Có đó giữ người ấy với những người đàn bà của chúng hay không? - Tôn giả Gotama, không.

“And would the aristocrats anoint him as king?” “No, Master Gotama. Why is that? Because his maternity is unsuitable.”

- Và những người Sát-đế-lỵ có quán đảnh cho người ấy để thành một Sát-đế-lỵ không?

- Tôn giả Gotama, thưa không.

- Tại sao không?

- Vì nó không được sinh (là Sát đế lỵ) từ mẫu hệ.

“What do you think, Ambaṭṭha? Suppose a brahmin boy was to sleep with an aristocrat girl, and they had a son. Would he receive a seat and water from the brahmins?” “He would, Master Gotama.”

25. - Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây một thanh niên Bà-la-môn cưới một thiếu nữ Sát-đế-lỵ. Do sự sum họp này, một người con trai được sanh. Một người sanh từ một thanh niên Bà-la-môn và một thiếu nữ Sát-đế-lỵ có thể thọ lãnh chỗ ngồi hay nước giữa những Bà-la-môn hay không?

- Tôn giả Gotama, có thể thọ lãnh.

“And would the brahmins feed him at an offering of food for ancestors, an offering of a dish of milk-rice, a sacrifice, or a feast for guests?” “They would.”

- Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết hay dùng các món ăn cúng dường, hay đồ ăn cúng theo thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?

- Tôn giả Gotama, có mời.

“And would the brahmins teach him the hymns or not?” “They would.”^

- Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú thuật không?

- Tôn giả Gotama, có dạy.

“And would he be kept from the women or not?” “He would not.”

- Có giữ những người đàn bà của chúng, hay không? - Tôn giả Gotama, thưa không.

“And would the aristocrats anoint him as king?” “No, Master Gotama. Why is that? Because his paternity is unsuitable.”

- Và những người Sát-đế-lỵ có làm lễ quán đỉnh cho người ấy để thành một Sát-đế-lỵ không?

- Tôn giả Gotama, thưa không.

- Tại sao vậy?

- Tôn giả Gotama, vì không được sinh (là Sát đế lỵ) từ phụ hệ.

“And so, Ambaṭṭha, the aristocrats are superior and the brahmins inferior, whether comparing women with women or men with men. What do you think, Ambaṭṭha? Suppose the brahmins for some reason were to shave a brahmin’s head, inflict him with a sack of ashes, and banish him from the nation or the city. Would he receive a seat and water from the brahmins?” “No, Master Gotama.”

26. - Này Ambattha, nếu so sánh đàn bà với đàn bà, đàn ông với đàn ông, thì giai cấp Sát đế lỵ là ưu, Bà-la-môn là liệt. Này Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây, giả sử do một nguyên nhân gì những người Bà-la-môn cạo đầu một người Bà-la-môn, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất ngươi ấy ra khỏi nước hay thành phố. Người ấy có được thọ lãnh chỗ ngồi và nước giữa những người Bà-la-môn không? - Tôn giả, không được.

“And would the brahmins feed him at an offering of food for ancestors, an offering of a dish of milk-rice, a sacrifice, or a feast for guests?” “No, Master Gotama.”

- Và những người Bà-la-môn, có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết hay dùng các món ăn cúng dường, hay đồ ăn cúng cho thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không? - Tôn giả Gotama, không có mời.

“And would the brahmins teach him the hymns or not?” “No, Master Gotama.”

- Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú thuật không? - Tôn giả Gotama, không dạy.

“And would he be kept from the women or not?” “He would be.”

- Có giữ khoảng cách với những người đàn bà của chúng, hay không? - Tôn giả Gotama, thưa có.

“What do you think, Ambaṭṭha? Suppose the aristocrats for some reason were to shave an aristocrat’s head, inflict him with a sack of ashes, and banish him from the nation or the city. Would he receive a seat and water from the brahmins?” “He would, Master Gotama.”

27. - Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây giả sử do một nguyên nhân gì, những người Sát đế lỵ cạo đầu một người Sát đế lỵ, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất người ấy ra khỏi nước hay thành phố, người ấy có được thọ lãnh chỗ ngồi và nước uống giữa những người Bà-la-môn không? - Tôn giả Gotama, được thọ lãnh.

“And would the brahmins feed him at an offering of food for ancestors, an offering of a dish of milk-rice, a sacrifice, or a feast for guests?” “They would.”

Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết, hay dùng những món ăn cúng dường, hoặc đồ ăn cúng cho thiên thần, hay đồ ăn gửi đến như những tặng phẩm không? - Tôn giả Gotama, có mời.

“And would the brahmins teach him the hymns or not?” “They would.”

- Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú thuật không? - Tôn giả Gotama, có dạy:

“And would he be kept from the women or not?” “He would not.”

- Có giữ cách xa những người đàn bà của chúng, hay không? - Tôn giả Gotama, thưa không.

“At this point, Ambaṭṭha, that aristocrat has reached rock bottom, with head shaven, inflicted with a sack of ashes, and banished from city or nation. Yet still the aristocrats are superior and the brahmins inferior. Brahmā Sanaṅkumāra also spoke this verse:

‘The aristocrat is best of those people
who take clan as the standard.
But one accomplished in knowledge and conduct
is best of gods and humans.’

- Này Ambattha, đến như vậy là sự đọa lạc tột cùng của người Sát-đế-lỵ, đã bị những người Sát-đế-lỵ cạo đầu, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất người ấy ra khỏi nước hay thành phố, như vậy, này Ambattha, khi người Sát-đế-lỵ bị đọa lạc tột cùng, các Sát đế lỵ vẫn giữ phần ưu thắng và các Bà-la-môn vẫn ở địa vị hạ liệt.

28. - Này Ambattha, bài kệ này do Phạm thiên Sanam Kumàra thuyết:

"Ðối với chúng sanh tin tưởng ở giai cấp,

Sát-đế-lỵ chiếm địa vị tối thắng ở nhân gian.

Những vị nào giới hạnh và trí tuệ đầy đủ,

vị này chiếm địa vị tối thắng giữa Người và chư Thiên".

That verse was well sung by Brahmā Sanaṅkumāra, not poorly sung; well spoken, not poorly spoken, beneficial, not harmful, and it was approved by me. For I also say this:

The aristocrat is best of those people
who take clan as the standard.
But one accomplished in knowledge and conduct
is best of gods and humans.”

Câu kệ được Phạm Thiên Sanaṅkumāra kệ hay chứ không phải kệ kém; nói tốt, không nói kém, có lợi, không có hại, và nó đã được tôi chấp thuận. Vì tôi cũng nói điều này:

4. Knowledge and Conduct

“But what, Master Gotama, is that conduct, and what is that knowledge?”

“Ambaṭṭha, in the supreme knowledge and conduct there is no discussion of ancestry or clan or pride—‘You deserve me’ or ‘You don’t deserve me.’ Wherever there is giving and taking in marriage there is such discussion. Whoever is attached to questions of ancestry or clan or pride, or to giving and taking in marriage, is far from the supreme knowledge and conduct. The realization of supreme knowledge and conduct occurs when you’ve given up such things.”

4. Tuệ và Giới Hạnh

1. - Tôn giả Gotama, nghĩa chữ Giới hạnh trong bài kệ ấy là gì? Nghĩa chữ Tuệ trong bài kệ ấy là gì?

- Này Ambattha, một vị đã thành tựu vô thượng trí đức không có luận nghị đến sự thọ sanh, không có luận nghị đến giai cấp hay không có luận nghị đến ngã mạn với lời nói: "Ngươi bằng ta hay ngươi không bằng ta". Chỗ nào nói đến cưới hỏi hay rước dâu đi, hay cả hai, chỗ đó mới có luận nghị đến sự thọ sanh, luận nghị đến giai cấp hay luận nghị đến ngã mạn với lời nói: "Ngươi bằng ta hay không bằng ta".

Này Ambattha, những ai còn chấp trước lý thuyết thọ sanh, còn chấp trước lý thuyết giai cấp, còn chấp trước lý thuyết kiêu mạn, hoặc còn chấp trước cưới hỏi rước dâu, những người ấy còn rất xa sự thành tựu vô thượng trí đức. Này Ambattha, không chấp trước lý thuyết thọ sanh, không chấp trước lý thuyết giai cấp, không chấp trước lý thuyết kiêu mạn, không chấp trước cưới hỏi, đưa dâu, người ấy tức chứng ngộ vô thượng trí đức.

“But what, Master Gotama, is that conduct, and what is that knowledge?”

“Ambaṭṭha, it’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those who wish to train, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras and Brahmās, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. A householder hears that teaching, or a householder’s child, or someone reborn in some clan. They gain faith in the Realized One, and reflect …

2. - Tôn giả Gotama, thế nào là Giới đức trong bài kệ ấy? Thế nào là Trí tuệ trong bài kệ ấy?

40 - Ở đây, này Ambattha, Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí thế giới này với thiên giới, ma giới, phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên Nhơn, lại tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.

Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption … This pertains to their conduct.

... (xin xem kinh "Sa-môn quả" - kinh số 2, từ đoạn số 40 đến số 98, tới câu: "Không có đời sống nào khác nữa" chỉ khác danh từ xưng hô và câu kết từng đoạn. Như đoạn này, câu kết là "Như vậy, này Ambattha, là vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh".)

Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption … This pertains to their conduct.

^^^^

Furthermore, with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption … This pertains to their conduct.

^^^^

Furthermore, giving up pleasure and pain, and ending former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption … This pertains to their conduct. This is that conduct.

^^^^

When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it and project it toward knowledge and vision. This pertains to their knowledge. … They understand: ‘There is no return to any state of existence.’ This pertains to their knowledge. This is that knowledge.

^^^^

This mendicant is said to be ‘accomplished in knowledge’, and also ‘accomplished in conduct’, and also ‘accomplished in knowledge and conduct’. And, Ambaṭṭha, there is no accomplishment in knowledge and conduct that is better or finer than this.

này Ambattha, Ðối với tự thân đã giải thoát, vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa. Như vậy, này Ambattha, là vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh

5. Four Drains

There are these four drains that affect this supreme knowledge and conduct. What four? Firstly, take some ascetic or brahmin who, not managing to obtain this supreme knowledge and conduct, plunges into a wilderness region carrying their stuff with a shoulder-pole, thinking they will get by eating fallen fruit. In fact they succeed only in serving someone accomplished in knowledge and conduct. This is the first drain that affects this supreme knowledge and conduct.

5. Bốn nguyên nhân đưa đến thất bại

3. Này Ambattha, có bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này. Thế nào là bốn? Này Ambattha, ở đấy có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, lại mang dụng cụ của nhà đạo sĩ, đi vào rừng sâu và nguyện: "Ta chỉ ăn trái cây rụng mà sống". Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân thứ nhất đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

Furthermore, take some ascetic or brahmin who, not managing to obtain this supreme knowledge and conduct or to get by eating fallen fruit, plunges into a wilderness region carrying a spade and basket, thinking they will get by eating tubers and fruit. In fact they succeed only in serving someone accomplished in knowledge and conduct. This is the second drain that affects this supreme knowledge and conduct.

Lại nữa, này Ambattha ở đây có vị Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, và chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, lại mang theo cuốc và giỏ đi vào rừng sâu và nguyện: "Ta chỉ ăn củ, rễ và trái cây để sống". Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân thứ hai đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

Furthermore, take some ascetic or brahmin who, not managing to obtain this supreme knowledge and conduct, or to get by eating fallen fruit, or to get by eating tubers and fruit, sets up a fire chamber in the neighborhood of a village or town and dwells there serving the sacred flame. In fact they succeed only in serving someone accomplished in knowledge and conduct. This is the third drain that affects this supreme knowledge and conduct.

Lại nữa, này Ambattha, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây để sống và chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, lại nhen lửa tại cuối làng hay sống thờ lửa ấy. Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambattha đó là nguyên nhân thứ ba đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

Furthermore, take some ascetic or brahmin who, not managing to obtain this supreme knowledge and conduct, or to get by eating fallen fruit, or to get by eating tubers and fruit, or to serve the sacred flame, sets up a fire chamber in the central square and dwells there, thinking: ‘When an ascetic or brahmin comes from the four quarters, I will honor them as best I can.’ In fact they succeed only in serving someone accomplished in knowledge and conduct. This is the fourth drain that affects this supreme knowledge and conduct. These are the four drains that affect this supreme knowledge and conduct.

Lại nữa Ambattha, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt được pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, chưa thấu đạt pháp tôn thờ lửa, lại xây dựng một ngôi nhà có bốn cửa tại ngã tư đường, sống và nguyện: "Từ bốn phương nếu có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào lại, thì ta sẽ cúng dường, tùy theo khả năng, tùy theo sức lực của ta". Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân thứ tư đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

Này Ambattha đó là bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

What do you think, Ambaṭṭha? Is this supreme knowledge and conduct seen in your own tradition?”

“No, Master Gotama. Who am I and my tradition compared with the supreme knowledge and conduct? We are far from that.”

4. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi và thầy ngươi có được xem là đã thành tựu vô thượng trí đức này không? - Bạch không, Tôn giả Gotama. Con và thầy con là gì, Tôn giả Gotama, để có thể so sánh với sự thành tựu vô thượng trí đức. Tôn giả Gotama, con và thầy con còn rất xa sự thành tựu vô thượng trí đức.

“What do you think, Ambaṭṭha? Since you’re not managing to obtain this supreme knowledge and conduct, have you with your tradition plunged into a wilderness region carrying your stuff with a shoulder-pole, thinking you will get by eating fallen fruit?”

“No, Master Gotama.”

4. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi và thầy ngươi có được xem là đã thành tựu vô thượng trí đức này không? - Bạch không, Tôn giả Gotama. Con và thầy con là gì, Tôn giả Gotama, để có thể so sánh với sự thành tựu vô thượng trí đức. Tôn giả Gotama, con và thầy con còn rất xa sự thành tựu vô thượng trí đức. - Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, nhà ngươi có đem theo dụng cụ của nhà đạo sĩ, đi vào rừng sâu và nguyện: "Ta và thầy ta chỉ ăn trái cây rụng mà sống?"

- Bạch không, Tôn giả Gotama.

“What do you think, Ambaṭṭha? Have you with your tradition … plunged into a wilderness region carrying a spade and basket, thinking you will get by eating tubers and fruit?”

“No, Master Gotama.”

Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, ngươi có mang theo cuốc và giỏ đi vào rừng sâu và nguyện: "Ta và thầy ta chỉ ăn rễ và trái cây để sống không?"

- Bạch không, Tôn giả Gotama.

“What do you think, Ambaṭṭha? Have you with your tradition … set up a fire chamber in the neighborhood of a village or town and dwelt there serving the sacred flame?”

“No, Master Gotama.”

- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, ngươi có nhen lửa tại cuối làng hay cuối xóm và sống thờ lửa ấy với thầy ngươi không?"

- Bạch không, Tôn giả Gotama

“What do you think, Ambaṭṭha? Have you with your tradition … set up a fire chamber in the central square and dwelt there, thinking: ‘When an ascetic or brahmin comes from the four quarters, I will honor them as best I can’?”

“No, Master Gotama.”

- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống và chưa thấu đạt sự thờ lửa, ngươi và thầy ngươi có xây dựng một ngôi nhà có bốn cửa tại ngã tư đường với lời nguyện: "Từ bốn phương, nếu có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào lại - thì ta sẽ cúng dường tùy theo khả năng, tùy theo sức lực của ta không?"

- Bạch không, Tôn giả Gotama.

“So you with your tradition are not only inferior to the supreme knowledge and conduct, you are even inferior to the four drains that affect the supreme knowledge and conduct. But you have been told this by your teacher, the brahmin Pokkharasāti: ‘Who are these shavelings, fake ascetics, riffraff, black spawn from the feet of our Kinsman compared with conversation with the brahmins of the three knowledges?” Yet he himself has not even fulfilled one of the drains! See, Ambaṭṭha, how your teacher Pokkharasāti has wronged you.

- Này Ambattha, như vậy ngươi và thầy ngươi còn khiếm khuyết sự thành tựu vô thượng trí đức này, còn khiếm khuyết bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này, Ambattha, thế mà những lời này lại do thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi thốt ra: "Những hạng Sa-môn giả hiệu, đầu trọc, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân bà con ta là ai mà có thể đàm luận với những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vệ đà". Một vị tự mình chưa thành tựu được những pháp đưa đến sự thất bại (cho những pháp cao thượng hơn). Này Ambattha, ngươi xem, thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi đã lỗi lầm như thế nào?

6. Being Like the Sages of the Past

But Pokkharasāti lives off an endowment provided by King Pasenadi of Kosala. But the king won’t even grant him an audience face to face. When he consults, he does so behind a curtain. Why wouldn’t the king grant a face to face audience with someone who’d receive his legitimate presentation of food? See, Ambaṭṭha, how your teacher Pokkharasāti has wronged you.

6. Giống các Ẩn Sĩ đời quá khứ

6. Này Ambattha, Bà-la-môn Pokkharasàdi hưởng thọ sự cung cấp của vua Pasenadi nước Kosala. Vua Pasenadi nước Kosala cũng không cho phép thầy ngươi diện kiến. Nếu vua hội nghị với thầy ngươi thời chỉ nói thầy ngươi ngang qua một tấm màn. Này Ambattha, tại sao vua Pasenadi nước Kosala lại không cho phép thầy ngươi diện kiến, người mà vua cung cấp thực phẩm thuần tịnh chân chánh. Này Ambattha, ngươi xem thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi đã lỗi lầm như thế nào?

What do you think, Ambaṭṭha? Suppose King Pasenadi was holding consultations with warrior-chiefs or chieftains while sitting on an elephant’s neck or on horseback, or while standing on the mat in a chariot. And suppose he’d get down from that place and stand aside. Then along would come a worker or their bondservant, who’d stand in the same place and continue the consultation: ‘This is what King Pasenadi says, and this too is what the king says.’ Though he spoke the king’s words and gave the king’s advice, does that qualify him to be the king or the king’s minister?”

“No, Master Gotama.”

7. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Như vua Pasenadi nước Kosala hoặc ngồi trên cổ voi, hoặc ngồi trên lưng ngựa, hoặc đứng trên lưng ngựa, hoặc đứng trên tấm thảm xe cùng các vị đại thần hay vương tử, luận bàn quốc sự. Nếu vua rời khỏi chỗ ấy hay đứng qua bên, một người Thủ đà hay đầy tớ của một người Thủ đà đến. Người này cũng đứng tại chỗ ấy, cũng luận bàn quốc sự và nói: "Vua Pasenadi nước Kosala đã nói như vậy". Dầu người ấy nói như lời nói của vua, luận bàn như lời luận bàn của vua, người ấy có thể là vua hay là bị phó vương không?

- Không thể được, Tôn giả Gotama.

In the same way, Ambaṭṭha, the brahmin seers of the past were Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, and Bhagu. They were the authors and propagators of the hymns. Their hymnal was sung and propagated and compiled in ancient times; and these days, brahmins continue to sing and chant it, chanting what was chanted and teaching what was taught. You might imagine that, since you’ve learned their hymns by heart in your own tradition, that makes you a hermit or someone on the path to becoming a hermit. But that is not possible.

8. - Này Ambattha, nhà ngươi cũng vậy. Thuở xưa, những vị ẩn sĩ giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật, đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm, những Thánh cú mà nay những Bà-la-môn hiện tại cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống như các vị trước đã làm. Những vị ẩn sĩ ấy tên là Atthaka (A sá ca), Vàmaka (Bà-ma), Vàmadeva (Bà-ma -đề-bà), Vessàmitta (Tì-bà-thẩm-sá), Yamataggi (Gia-bà -đề-bà), Angirasa (Ương-kỳ-la), Bhàradvàja (Bạt-la-đà thẩm-xà), Vàsettha (Bà-ma-sá) Kassapa (Ca-diếp), Bhagu (Bà-cửu). Dầu ngươi có thể nói: "Ta, một đệ tử, học thuộc lòng những chú thuật của các vị ấy", chỉ với điều kiện này, ngươi có thể được xem là một vị ẩn sĩ hay đã chứng địa vị của một ẩn sĩ không? - Việc này không thể có được.

What do you think, Ambaṭṭha? According to what you have heard from elderly and senior brahmins, the teachers of teachers, did those brahmin hermits of the past—nicely bathed and anointed, with hair and beard dressed, bedecked with jewels, earrings, and bracelets, dressed in white—amuse themselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation, like you do today in your tradition?”

“No, Master Gotama.”

9. Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có được nghe những vị Bà-la-môn, trưởng lão, tôn túc, những vị giáo sư và tổ sư nói đến không? Thuở xưa những vị ẩn sĩ, giữa các Bà-la-môn, những tác giả của chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm những Thánh cú mà nay những Bà-la-môn, cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống như các vị trước đã làm. Những vị ẩn sĩ ấy tên là Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angirasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu. Những vị ấy có khéo tắm, khéo chải chuốt, tóc và râu khéo sửa soạn, trang điểm với vòng hoa và ngọc, mặc toàn đồ trắng, tận hưởng và tham đắm năm món dục lạc, như người và thầy của ngươi hiện nay không?

- Không có vậy. Tôn giả Gotama.

“Did they eat boiled fine rice, garnished with clean meat, with the dark grains picked out, served with many soups and sauces, like you do today in your tradition?”

“No, Master Gotama.”

10. - Các vị ẩn sĩ ấy có dùng cơm nấu từ gạo trắng thượng hạng mà các hạt đen được gạn bỏ ra, dùng các món canh, các món đồ ăn nhiều loại không, như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?

- Không có vậy, Tôn giả Gotama.

“Did they amuse themselves with girls wearing thongs that show off their curves, like you do today in your tradition?” “No, Master Gotama.”

- Hay các vị ấy được những thiếu nữ có đường eo và thắt lưng có tua hầu hạ như ngươi và thầy ngươi hiện nay không? - Không có vậy, Tôn giả Gotama.

“Did they drive about in chariots drawn by mares with plaited manes, whipping and lashing them onward with long goads, like you do today in your tradition?” “No, Master Gotama.”

- Hay những vị ấy đi trên những xe do những con ngựa cái có bờm, đuôi được bện và dùng những cây roi và gậy dài như ngươi và thầy ngươi hiện nay không? - Không có vậy, Tôn giả Gotama.

“Did they get men with long swords to guard them in fortresses with moats dug and barriers in place, like you do today in your tradition?” “No, Master Gotama.”

- Hay những vị ấy sống được che chở trong những thành lũy có những chiến hào bao bọc, có những cửa thành hạ xuống, có những chiến sĩ mang gươm dài hộ vệ như ngươi và thầy ngươi hiện nay không? - Không có vậy, Tôn giả Gotama.

“So, Ambaṭṭha, in your own tradition you are neither hermit nor someone on the path to becoming a hermit. Whoever has any doubt or uncertainty about me, let them ask me and I will clear up their doubts with my answer.”

- Như vậy, này Ambattha, ngươi và thầy ngươi không phải là một ẩn sĩ, không giống đời sống của nhà ẩn sĩ. Này Ambattha, nếu có gì nghi ngờ, có gì phân vân về Ta, hãy hỏi Ta và Ta sẽ trả lời.

7. Seeing the Two Marks

Then the Buddha came out of his dwelling and proceeded to begin walking meditation, and Ambaṭṭha did likewise. Then while walking beside the Buddha, Ambaṭṭha scrutinized his body for the thirty-two marks of a great man. He saw all of them except for two, which he had doubts about: whether the private parts are retracted, and the largeness of the tongue.

7. Thấy hai tướng tốt

11. Lúc bấy giờ, Thế Tôn ra khỏi tịnh xá và bắt đầu đi kinh hành. Thanh niên Ambattha đi theo sau Thế Tôn đang đi kinh hành và tìm đếm ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.

Then it occurred to the Buddha, “This brahmin student Ambaṭṭha sees all the marks except for two, which he has doubts about: whether the private parts are retracted, and the largeness of the tongue.” Then the Buddha used his psychic power to will that Ambaṭṭha would see his retracted private parts. And he stuck out his tongue and stroked back and forth on his ear holes and nostrils, and covered his entire forehead with his tongue.

12. Khi bấy giờ, Thế Tôn nghĩ rằng: "Thanh niên Ambattha này thấy ở nơi ta gần đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân trừ hai tướng. Ðối với hai tướng tốt của vị đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài".Thế Tôn liền dùng thần thông khiến thanh niên Ambattha thấy tướng mã âm tàng của Thế Tôn. Và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai, rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vầng trán.

Then Ambaṭṭha thought, “The ascetic Gotama possesses the thirty-two marks completely, lacking none.”

Lúc bấy giờ, thanh niên Ambattha liền nghĩ rằng: "Sa-môn Gotama đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, không phải không đầy đủ".

He said to the Buddha, “Well, now, sir, I must go. I have many duties, and much to do.”

Và nói với Thế Tôn: "Tôn giả Gotama, nay chúng tôi xin đi, chúng tôi rất bận, có nhiều việc cần phải làm".

“Please, Ambaṭṭha, go at your convenience.” Then Ambaṭṭha mounted his mare-drawn chariot and left.

- Này Ambattha, hãy làm những gì ngươi nghĩ là phải thời. Rồi thanh niên Ambattha leo lên xe do ngựa cái kéo và ra đi.

Now at that time the brahmin Pokkharasāti had come out from Ukkaṭṭhā together with a large group of brahmins and was sitting in his own park just waiting for Ambaṭṭha. Then Ambaṭṭha entered the park. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and approached the brahmin Pokkharasāti on foot. He bowed and sat down to one side, and Pokkharasāti said to him:

13. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Pokkharasàdi ra khỏi Ukkattha với một đại chúng Bà-la-môn, ngồi tại hoa viên của mình và chờ đợi thanh niên Ambattha. Khi thanh niên Ambattha đi đến hoa viên, đi xe cho đến chỗ còn đi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Bà-la-môn Pokkharasàdi đang ngồi. Ðến xong, thanh niên Ambattha đảnh lễ Bà-la-môn Pokkharasàdi và ngồi xuống một bên. Sau khi thanh niên Ambattha ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pokkharasàdi nói:

“I hope, dear Ambaṭṭha, you saw the Master Gotama?” “I saw him, sir.”

14. - Này Ambattha thân mến, ngươi đã thấy Sa-môn Gotama chưa? - Chúng con thấy Tôn giả Gotama rồi.

“Well, does he live up to his reputation or not?” “He does, sir. Master Gotama possesses the thirty-two marks completely, lacking none.”

- Này Ambattha thân mến, có phải Tôn giả Gotama đúng với tin đồn đã truyền đi, chớ không phải khác?- Tôn giả Gotama đúng với tin đồn đã truyền đi, chớ không phải khác. Tôn giả Gotama là như vậy, chớ không phải khác. Tôn giả Gotama đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, chớ không phải thiếu.

“And did you have some discussion with him?” “I did.”

- Này Ambattha thân mến, con có cùng với Tôn giả Gotama đàm luận không? - Con có đàm luận với Tôn giả Gotama.

“And what kind of discussion did you have with him?” Then Ambaṭṭha informed Pokkharasāti of all they had discussed.

- Này Ambattha thân mến, cuộc đàm luận ấy như thế nào?

Then Pokkharasāti said to Ambaṭṭha, “Oh, our bloody fake scholar, our fake learned man, who pretends to be proficient in the three Vedas! A man who behaves like this ought, when their body breaks up, after death, to be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. It’s only because you repeatedly attacked Master Gotama like that that he kept bringing up charges against us!” Angry and upset, he kicked Ambaṭṭha over, and wanted to go and see the Buddha right away.

Thanh niên Ambattha liền thuật cho Bà-la-môn Pokkharasàdi rõ tất cả cuộc hội đàm với Tôn giả Gotama. 15. Nghe nói như vậy, Bà-la-môn Pokkharasàdi nói với thanh niên Ambattha: - Ngươi thật là nhà học giả đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà đa văn đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà tinh thông ba quyển Vệ đà đốn mạt của chúng ta. Người ta nói những ai có sự cư xử như vậy, khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh vào cõi ác, đọa xứ, địa ngục. Này Ambattha, ngươi càng công kích Tôn giả Gotama bao nhiêu, lại càng bị Tôn giả Gotama lật tẩy chúng ta bấy nhiêu. Ngươi thật là nhà học giả đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà đa văn đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà tinh thông ba quyển Vệ đà đốn mạt của chúng ta! Người ta nói, những ai có sự cư xử như vậy, khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh vào cõi ác, đọa xứ, địa ngục. Bà-la-môn Pokkharasàdi tức giận, bực bội, dùng chân đá thanh niên Ambattha bổ lộn nhào rồi lập tức muốn đi gặp đến Thế Tôn.

8. Pokkharasāti Visits the Buddha

Then those brahmins said to Pokkharasāti, “It’s much too late to visit the ascetic Gotama today. You can visit him tomorrow.”

8. Pokkharasāti đến đảnh lễ Đức Thễ Tôn

16. Khi ấy, những người Bà-la-môn này thưa với Bà-la-môn Pokkharasàdi: "Hôm nay thì giờ đã quá trễ để đi thăm Sa-môn Gotama. Ngày mai Tôn giả Pokkharasàdi hãy đi thăm Sa-môn Gotama".

So Pokkharasāti had a variety of delicious foods prepared in his own home. Then he mounted a carriage and, with attendants carrying torches, set out from Ukkaṭṭhā for the forest near Icchānaṅgala. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and entered the monastery on foot. He went up to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha, “Master Gotama, has my pupil, the student Ambaṭṭha, come here?” “Yes he has, brahmin.”

Tuy vậy, Bà-la-môn Pokkharasàdi vẫn cho làm các món ăn thượng vị, loại cứng loại mềm tại nhà riêng, chở trên các xe, và dưới ánh sáng của những ngọn đuốc từ Ukkattha đi ra và đi đến khóm rừng Icchànankala. Vị này đi xe cho đến chỗ còn đi xe được rồi xuống xe đi bộ đến Thế Tôn. Khi đi đến, liền nói với Thế Tôn những lời hỏi thăm xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pokkharasàdi nói với Thế Tôn: 17. - Tôn giả Gotama, đệ tử của chúng tôi, thanh niên Ambattha có đến đây không? - Này Bà-la-môn, đệ tử ngươi, thanh niên Ambattha có đến đây.

And did you have some discussion with him?” “I did.”

- Tôn giả Gotama, Ngài có cùng với thanh niên Ambattha đàm luận không? - Này Bà-la-môn, ta có đàm luận với thanh niên Ambattha.

“And what kind of discussion did you have with him?” Then the Buddha informed Pokkharasāti of all they had discussed.

- Tôn giả Gotama, cuộc đàm luận của Ngài với thanh niên Ambattha như thế nào? Cuộc đàm luận với thanh niên Ambattha như thế nào, Thế Tôn kể lại tất cả cho Bà-la-môn Pokkharasàdi.

Then Pokkharasāti said to the Buddha, “Ambaṭṭha is a fool, Master Gotama. Please forgive him.”

Nghe nói vậy, Bà-la-môn nói với Thế Tôn: - Tôn giả Gotama, thanh niên Ambattha thật là ngu si! Tôn giả Gotama, hãy tha thứ cho thanh niên Ambattha!

May the student Ambaṭṭha be happy, brahmin.”

- Này Bà-la-môn, cầu cho thanh niên Ambattha được hạnh phúc.

Then Pokkharasāti scrutinized the Buddha’s body for the thirty-two marks of a great man. He saw all of them except for two, which he had doubts about: whether the private parts are retracted, and the largeness of the tongue.

18. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi tìm đếm ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân trên thân Thế Tôn. Bà-la-môn thấy gần đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân trên thân Thế Tôn, trừ hai tướng. Ðối với hai tướng tốt của bậc đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, hai tướng là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.

Then it occurred to the Buddha, “Pokkharasāti sees all the marks except for two, which he has doubts about: whether the private parts are retracted, and the largeness of the tongue.” Then the Buddha used his psychic power to will that Brahmāyu would see his retracted private parts. And he stuck out his tongue and stroked back and forth on his ear holes and nostrils, and covered his entire forehead with his tongue.

19. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ: rằng: "Bà-la-môn Pokkharasàdi thấy gần đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân ở nơi Ta, trừ hai tướng. Ðối với hai tướng tốt của bậc đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài". Thế Tôn liền dùng thần thông khiến Bà-la-môn Pokkharasàdi thấy tướng mã âm tàng của Thế Tôn. Và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai, rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vầng trán.

Pokkharasāti thought, “The ascetic Gotama possesses the thirty-two marks completely, lacking none.”

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi nghĩ rằng: "Sa môn Gotama có đầy ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân, không phải không đầy đủ",

He said to the Buddha, “Would Master Gotama together with the mendicant Saṅgha please accept today’s meal from me?” The Buddha consented in silence.

liền nói với Thế Tôn: "Hôm nay xin mời Tôn giả Gotama cùng chúng Tỷ-kheo đến dùng cơm với con. Thế Tôn nhận lời với sự im lặng.

Then, knowing that the Buddha had consented, Pokkharasāti announced the time to him, “It’s time, Master Gotama, the meal is ready.” Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of Pokkharasāti together with the mendicant Saṅgha, where he sat on the seat spread out. Then Pokkharasāti served and satisfied the Buddha with his own hands with a variety of delicious foods, while his students served the Saṅgha. When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, Pokkharasāti took a low seat and sat to one side.

20. Khi Bà-la-môn Pokkharasàdi được biết Thế Tôn đã nhân lời liền báo thì giờ cho Thế Tôn: Tôn giả Gotama, cơm đã sẵn sàng. Khi ấy Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát, và cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến cư xá của Bà-la-môn Pokkharasàdi. Khi đi đến, liền ngồi trên chỗ soạn sẵn. Bà-la-môn Pokkharasàdi tự tay làm cho Thế Tôn thỏa mãn với những món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, còn các thanh niên Bà-la-môn thì tiếp đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi, sau khi biết Thế Tôn dùng cơm đã xong, đã rửa tay và bát, liền lấy một ghế ngồi thấp khác và ngồi xuống một bên.

Then the Buddha taught him step by step, with a talk on giving, ethical conduct, and heaven. He explained the drawbacks of sensual pleasures, so sordid and corrupt, and the benefit of renunciation. And when the Buddha knew that Pokkharasāti’s mind was ready, pliable, rid of hindrances, joyful, and confident he explained the special teaching of the Buddhas: suffering, its origin, its cessation, and the path. Just as a clean cloth rid of stains would properly absorb dye, in that very seat the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in the brahmin Pokkharasāti: “Everything that has a beginning has an end.”

21. Thế Tôn liền thứ lớp giảng pháp cho Bà-la-môn Pokkharasàdi đang ngồi một bên nghe, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Pokkharasàdi đã sẵn sàng, đã nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã chứng ngộ, tức là khổ, tập, diệt, đạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính chỗ ngồi này, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Pokkharasàdi: "Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt".

9. Pokkharasāti Declares Himself a Lay Follower

Then Pokkharasāti saw, attained, understood, and fathomed the Dhamma. He went beyond doubt, got rid of indecision, and became self-assured and independent of others regarding the Teacher’s instructions. He said to the Buddha, “Excellent, Master Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with good eyes can see what’s there, just so has Master Gotama made the Teaching clear in many ways. Together with my children, wives, retinue, and ministers, I go for refuge to Master Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may Master Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.

9. Pokkharasāti xin quy y làm đệ tử

22. Khi ấy Bà-la-môn Pokkharasàdi, thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người đối với đạo pháp của đức Bổn sư. Bà-la-môn Pokkharasàdi liền bạch Phật:- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Tôn giả Gotama, con, con của con, vợ của con, tùy tùng của con, bạn hữu của con, xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

Just as Master Gotama visits other devoted families in Ukkaṭṭhā, may he visit mine. The brahmin boys and girls there will bow to you, rise in your presence, give you a seat and water, and gain confidence in their hearts. That will be for their lasting welfare and happiness.”

Như Tôn giả Gotama đến thăm các gia đình cư sĩ khác ở Ukkattha, mong Tôn giả Gotama cũng đến thăm các gia đình Pokkharasàdi. Tại đây, các thanh nam hay thanh nữ Bà-la-môn sẽ đảnh lễ Thế Tôn Gotama, hoặc đứng dậy, hoặc mời chỗ ngồi, hoặc mời nước, hoặc khiến tâm hoan hỷ. Như vậy chúng sẽ hưởng hạnh phúc, lợi ích trong một thời gian lâu dài.

“That’s good of you to say, householder.”

- Này Bà-la-môn lời ngươi nói thật là chí thiện.

 Chủ biên và điều hành: TT Thích Giác Đẳng.

  Những đóng góp dịch thuật xin gửi về TT Thích Giác Đẳng tại phamdang0308@gmail.com
Cập nhập ngày: Thứ Sáu 11-12-2020

webmasters: Minh Hạnh & Thiện Pháp, Thủy Tú & Phạm Cương

 | | trở về đầu trang | Home page |