So I have heard. At one time the Buddha was wandering in the land of the Kosalans together with a large Saṅgha of mendicants.

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đi du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo.

Then the Buddha left the road, and at a certain spot he smiled. Then Venerable Ānanda thought, “What is the cause, what is the reason why the Buddha smiled? Realized Ones do not smile for no reason.”So Ānanda got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said,

Rồi Thế Tôn bước xuống bên lề đường, đến tại một địa điểm rồi mỉm cười. Tôn giả Ananda suy nghĩ: "Do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại mỉm cười. Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười". Rồi Tôn giả Ananda đắp y về phía một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

“What is the cause, what is the reason why the Buddha smiled? Realized Ones do not smile for no reason.”

-- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười.

“Once upon a time, Ānanda, there was a market town in this spot named Vebhaliṅga. It was successful and prosperous and full of people. And Kassapa, a blessed one, a perfected one, a fully awakened Buddha, lived supported by Vebhaliṅga. It was here, in fact, that he had his monastery, where he sat and advised the mendicant Saṅgha.”

-- Thuở xưa này Ananda, tại địa điểm này là một thị trấn tên là Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sống ở đây, dựa vào thị trấn Vebhalinga. Ở đây, này Ananda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ananda. Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.

Then Ānanda spread out his outer robe folded in four and said to the Buddha,

Rồi Tôn giả Ananda gấp tư y sanghati (tăng-già-lê), trải ra rồi bạch Thế Tôn:

“Well then, sir, may the Blessed One sit here! Then this piece of land will have been occupied by two perfected ones, fully awakened Buddhas.”

-- Bạch Thế Tôn, thỉnh Thế Tôn ngồi xuống. Chính tại địa điểm này, hai bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sẽ sử dụng.

” The Buddha sat on the seat spread out. When he was seated he said to Venerable Ānanda:

Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

“Once upon a time, Ānanda, there was a market town in this spot named Vebhaliṅga. It was successful and prosperous and full of people. And Kassapa, a blessed one, a perfected one, a fully awakened Buddha, lived supported by Vebhaliṅga. It was here, in fact, that he had his monastery, where he sat and advised the mendicant Saṅgha.

-- Thuở xưa, này Ananda, tại địa điểm này là thị trấn tên Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã sống dựa vào thị trấn Vebhalinga. Chính tại đây, này Ananda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.

The Buddha Kassapa had as chief supporter in Vebhaliṅga a potter named Ghaṭīkāra. Ghaṭīkāra had a dear friend named Jotipāla, a brahmin student. Then Ghaṭīkāra addressed Jotipāla,

Này Ananda, chính tại thị trấn Vebhalinga, có người thợ làm đồ gốm tên là Ghatikara, người này là người đàn tín của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vị đàn tín đệ nhất. Thanh niên Jotipala là người bạn chí thân của thợ gốm Ghatikara. Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:

‘Come, dear Jotipāla, let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I regard it as holy to see that Blessed One.’

"-- Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy".

When he said this, Jotipāla said to him, ‘Enough, dear Ghaṭīkāra. What’s the use of seeing that baldy, that fake ascetic?’

Khi nghe nói vậy, này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:

^^^^

"-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?"

For a second time … and a third time, Ghaṭīkāra addressed Jotipāla, ‘

Lần thứ hai, này Ananda... Lần thứ ba, này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:

‘Come, dear Jotipāla, let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I regard it as holy to see that Blessed One.’

"-- Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy".

For a third time, Jotipāla said to him, ‘Enough, dear Ghaṭīkāra. What’s the use of seeing that baldy, that fake ascetic?’

Lần thứ ba này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:

^^^^

"-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?"

‘Well then, dear Jotipāla, let’s take some bathing paste of powdered shell and go to the river to bathe.’

‘Yes, dear,’

"-- Vậy này bạn Jotipala, hãy cầm đồ gãi lưng và bột tắm, chúng ta hãy đi đến sông để tắm".

"-- Thưa bạn, vâng".

replied Jotipāla. So that’s what they did.

Này Ananda, thanh niên Jotipala vâng đáp thợ gốm Ghatikara như vậy.

Then Ghaṭīkāra addressed Jotipāla, ‘

Thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala lấy đồ gãi lưng và bột tắm, đi đến sông để tắm. Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:

‘Dear Jotipāla, the Buddha Kassapa’s monastery is not far away. Let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I regard it as holy to see that Blessed One.’

"-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy".

When he said this, Jotipāla said to him, ‘Enough, dear Ghaṭīkāra. What’s the use of seeing that baldy, that fake ascetic?’

Khi nghe nói vậy, này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:

^^^^

"-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?"

For a second time … and a third time, Ghaṭīkāra addressed Jotipāla,

Lần thứ hai, này Ananda, ...lần thứ ba này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:

‘Dear Jotipāla, the Buddha Kassapa’s monastery is not far away. Let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I regard it as holy to see that Blessed One.’

"-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy".

For a third time, Jotipāla said to him, ‘Enough, dear Ghaṭīkāra. What’s the use of seeing that baldy, that fake ascetic?’

Lần thứ ba, này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:

^^^

"-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?"

Then Ghaṭīkāra grabbed Jotipāla by the belt and said,

Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara nắm lấy thanh niên Jotipala ở nơi cổ tay áo và nói:

‘Dear Jotipāla, the Buddha Kassapa’s monastery is not far away. Let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I regard it as holy to see that Blessed One.’

"-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy".

So Jotipāla undid his belt and said to Ghaṭīkāra,

Rồi này Ananda, sau khi gỡ thoát cổ áo, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:

‘Enough, dear Ghaṭīkāra. What’s the use of seeing that baldy, that fake ascetic?’

"-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến vị Sa-môn đầu trọc ấy để làm gì?

Then Ghaṭīkāra grabbed Jotipāla by the hair of his freshly-washed head and said,

Rồi thợ gốm Ghatikara nắm lấy tóc vừa mới tắm xong của thanh niên Jotipala và nói:

‘Dear Jotipāla, the Buddha Kassapa’s monastery is not far away. Let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I regard it as holy to see that Blessed One.’

"-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala chúng ta hãy đi, chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác".

Then Jotipāla thought, ‘It’s incredible, it’s amazing, how this potter Ghaṭikāra, though born in a lower caste, should presume to grab me by the hair of my freshly-washed head! This must be no ordinary matter.’ He said to Ghaṭīkāra,

Rồi này Ananda, thanh niên Jotipala suy nghĩ như sau: "Thật là vi diệu! Thật là hy hữu! Thợ gốm Ghatikara tuy sanh thuộc hạ cấp, lại dám nghĩ có thể nắm lấy tóc của ta, dầu ta vừa mới gội đầu, chắc việc này không phải là tầm thường", rồi nói với thợ gốm Ghatikara:

‘You’d even milk it to this extent, dear Ghaṭīkāra? ‘‘I even milk it to this extent, dear Jotipāla. For that is how holy I regard it to see that Blessed One.’’

"-- Này bạn Ghatikara, có thật sự là cần thiết không?"

‘Well then, dear Ghaṭīkāra, release me, we shall go.’

"-- Vậy bạn Ghatikara, hãy thả (tay) ra. Chúng ta sẽ đi"..

^^^

"-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy".

Then Ghaṭīkāra the potter and Jotipāla the brahmin student went to the Buddha Kassapa. Ghaṭīkāra bowed and sat down to one side, but Jotipāla exchanged greetings with the Buddha and sat down to one side.Ghaṭīkāra said to the Buddha Kassapa,

Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala cùng đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, thợ gốm Ghatikara đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác rồi ngồi xuống một bên. Còn thanh niên Jotipala thời nói lên những lời cháo đón hỏi thăm với Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, này Ananda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:

‘Sir, this is my dear friend Jotipāla, a brahmin student. Please teach him the Dhamma.’

"-- Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn thuyết pháp cho bạn con".

Then the Buddha Kassapa educated, encouraged, fired up, and inspired Ghaṭikāra and Jotipāla with a Dhamma talk. Then they got up from their seat, bowed, and respectfully circled the Buddha Kassapa, keeping him on their right, before leaving.

Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với pháp thoại khích lệ làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala. Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, phấn khởi, hoan hỷ, sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Then Jotipāla said to Ghatīkāra,

Rồi này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:

‘Dear Ghaṭīkāra, you have heard this teaching, so why don’t you go forth from the lay life to homelessness?’

"-- Này bạn Ghatikara, khi nghe pháp này, vì sao bạn không xuất gia?"

‘Don’t you know, dear Jotipāla, that I look after my blind old parents?’

"-- Này bạn Jotipala, bạn không biết tôi sao? Tôi phải nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa".

‘Well then, dear Ghaṭīkāra, I shall go forth from the lay life to homelessness.’

"-- Vậy này bạn Ghatikara, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình".

Then Ghaṭīkāra and Jotipāla went to the Buddha Kassapa, bowed and sat down to one side. Ghaṭīkāra said to the Buddha Kassapa,

Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ananda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:

‘Sir, this is my dear friend Jotipāla, a brahmin student. Please give him the going forth.’ And Jotipāla the brahmin student received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence.

"-- Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn xuất gia cho bạn con".

Not long after Jotipāla’s ordination, a fortnight later, the Buddha Kassapa—having stayed in Vebhaliṅga as long as he wished—set out for Benares. Traveling stage by stage, he arrived at Benares, where he stayed near Benares, in the deer park at Isipatana.

Và này Ananda, thanh niên Jotipala được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cho xuất gia, cho thọ đại giới. Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi thanh niên Jotipala xuất gia chưa bao lâu, sau nửa tháng, sau khi ở tại Vebhalinga lâu cho đến khi thấy tự thỏa mãn, liền du hành đi đến Baranasi. Ngài tuần tự du hành và đến tại Baranasi (Ba-la-nại). Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chành Ðẳng Giác trú tại Baranasi, ở Isipatana, vườn Lộc Uyển.

King Kikī of Kāsi heard that he had arrived. He had the finest carriages harnessed. He then mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out in full royal pomp from Benares to see the Buddha Kassapa. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and approached the Buddha Kassapa on foot. He bowed and sat down to one side. The Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired him with a Dhamma talk. Then King Kikī said to the Buddha, ‘Sir, would the Buddha together with the mendicant Saṅgha please accept tomorrow’s meal from me?’ The Buddha Kassapa consented in silence.

Này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi được nghe như sau: "Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến Baranasi, trú tại Baranasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này Ananda, Kiki, vua nước Kasi cho thắng các cỗ xe tối thù thắng, sau khi tự mình leo lên một cỗ xe thù thắng với các cỗ xe thù thắng đi ra khỏi thành Baranasi với đại uy vệ của nhà vua để yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Vua đi xe cho đến chỗ nào còn đi được xe, rồi xuống xe đi bộ, đi đến chỗ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vua ngồi xuống một bên. Này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Kiki, vua xứ Kasi, đang ngồi một bên. Rồi Kiki, vua xứ Kasi, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:

‘Sir, would the Buddha together with the mendicant Saṅgha please accept tomorrow’s meal from me?’ .

"-- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời con mời ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo".

The Buddha Kassapa consented in silence.Then, knowing that the Buddha had consented, King Kikī got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.

Và này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác im lặng nhận lời. Rồi này Ananda, sau khi được biết Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nhận lời, Kiki, vua xứ Kasi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

And when the night had passed, King Kikī had a variety of delicious foods prepared in his own home—soft saffron rice with the dark grains picked out, served with many soups and sauces. Then he had the Buddha informed of the time, saying, ’

Và này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đêm ấy đã mãn, tại trú xứ của mình, cho bày biện các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cơm vàng khô, các loại cari, các hột đen được gạn bỏ, và các món ăn gia vị, rồi báo thời giờ cho Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được biết:

‘Sir, it’s time. The meal is ready.’

""-- Bạch Thế Tôn giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng".

Then Kassapa Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of King Kikī, where he sat on the seat spread out, together with the Saṅgha of mendicants. Then King Kikī served and satisfied the mendicant Saṅgha headed by the Buddha with his own hands with a variety of delicious foods.When the Buddha Kassapa had eaten and washed his hand and bowl, King Kikī took a low seat and sat to one side. There he said to the Buddha Kassapa,

Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi tự tay thân hầu và làm cho thỏa mãn chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, khi Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã ăn xong, tay đã rời khỏi bát, lấy một ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:

Sir, may the Buddha please accept my invitation to reside in Benares for the rainy season. The Saṅgha will be looked after in the same style.’

"-- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con an cư mùa mưa tại Baranasi; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo".

‘Enough, great king. I have already accepted an invitation for the rains residence.’

"-- Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư mùa mưa rồi."

For a second time … and a third time King Kikī said to the Buddha Kassapa,

Lần thứ hai, này Ananda,... Lần thứ ba, này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:

‘Sir, may the Buddha please accept my invitation to reside in Benares for the rainy season. The Saṅgha will be looked after in the same style.’

"-- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con, an cư mùa mưa tại Baranasi; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo".

Enough, Great King. I have already accepted an invitation for the rains residence.’

"-- Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư trong mùa mưa rồi".

Then King Kikī, thinking, ‘The Buddha does not accept my invitation to reside for the rains in Benares,’ became sad and upset. Then King Kikī said to the Buddha Kassapa,

Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, suy nghĩ như sau: "Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Baranasi", vì vậy cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:

‘Sir, do you have another supporter better than me?’

"-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có người đàn tín hộ trì hơn con?"

Great king, there is a market town named Vebhaliṅga, where there’s a potter named Ghaṭīkāra. He is my chief supporter. Now, great king, you thought, “The Buddha does not accept my invitation to reside for the rains in Benares,” and you became sad and upset. But Ghaṭīkāra doesn’t get upset, nor will he. Ghaṭīkāra has gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. He doesn’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or take alcoholic drinks that cause negligence. He has experiential confidence in the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, and has the ethics loved by the noble ones. He is free of doubt regarding suffering, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. He eats in one part of the day; he’s celibate, ethical, and of good character. He has set aside gems and gold, and rejected gold and money. He’s put down the shovel and doesn’t dig the earth with his own hands. He takes what has crumbled off by a riverbank or been dug up by mice, and brings it back in a carrier. When he has made a pot, he says, “Anyone may leave bagged sesame, mung beans, or chickpeas here and take what they wish.” He looks after his blind old parents. And since he has ended the five lower fetters, Ghaṭīkāra will be reborn spontaneously and will become extinguished there, not liable to return from that world.

"-- Ðại vương, có một thị trấn tên là Vebhalinga. Tại đấy có thợ gốm tên là Ghatikara. Người ấy là đàn tín hộ trì của Ta, một đàn tín hộ trì tối thượng. Ðại vương, Ðại vương có nghĩ như sau: "Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Baranasi", do vậy, Ðại vương cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Nhưng thợ gốm Ghatikara không có như vậy, và không sợ như vậy. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói láo, từ bỏ rượu men, rượu nấu. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara thành tựu lòng tin bất thối chuyển đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, thành tựu các giới được bậc Thánh ái lạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có nghi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara, ăn một ngày một bữa, sống Phạm hạnh, có giới hạnh, theo thiện pháp. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ ngọc và vàng, không có vàng và bạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có tự tay đào đất hay đào với cái cuốc. Vị này vui lòng làm thành ghè bát với đất lấy từ bờ đê bị sập xuống hay do chuột và chó đào lên, và nói như sau: "Ở đây, nếu ai muốn, hãy bỏ vào từng nhúm các loại gạo có vỏ, từng nhúm các loại đậu que (mugga), từng nhúm các loại đậu hột (kalaya), và có thể lấy cái gì mình muốn". Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn từ chỗ ấy, không phải trở lui đời này nữa.

This one time, great king, I was staying near the market town of Vebhaliṅga. Then I robed up in the morning and, taking my bowl and robe, went to the home of Ghaṭīkāra’s parents, where I said to them, “Excuse me, where has Bhaggava gone?”

"Một thời, này Ðại vương, Ta ở tại thị trấn Vabhalinga. Rồi này Ðại vương, Ta vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến cha mẹ của thợ gốm Ghatikara, sau khi đến nói với cha mẹ thợ gốm Ghatikara như sau:

“Excuse me, where has Bhaggava gone?”

"-- Người thợ làm đồ gốm đi đâu?"

“Your supporter has gone out, sir. But take rice from the pot and sauce from the pan and eat.” So that’s what I did. And after eating I got up from my seat and left.

"-- Bạch Thế Tôn, người đàn tín hộ trì cho Thế Tôn đã đi khỏi và có dặn như sau: Hãy lấy cháo từ nơi nồi, hãy lấy đồ ăn từ nơi chảo mà dùng".

Then Ghaṭīkāra went up to his parents and said,

"Rồi Ta, này Ðại vương, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi. Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến, nói với cha mẹ như sau:

“Who took rice from the pot and sauce from the pan, ate it, and left?”

"-- Ai đã lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi?"

“It was the Buddha Kassapa, my dear.

"-- Này con, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi".

Then Ghaṭīkāra thought, “I’m so fortunate, so very fortunate, in that the Buddha Kassapa trusts me so much!” Then joy and happiness did not leave him for a fortnight, or his parents for a week.

"Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: "Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy". Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần (không rời khỏi) cha mẹ (người thợ gốm).

Another time, great king, I was staying near that same market town of Vebhaliṅga. Now at that time my hut leaked. So I addressed the mendicants,

"Một thời, này Ðại Vương. Ta trú ở thị trấn Vebhalinga, lúc bấy giờ, các cốc bị mưa dột, rồi Ta, này Ðại vương, gọi các Tỷ-kheo:

“Mendicants, go to Ghaṭikāra’s home and find some grass.””

"-- Hãy đi, này các Tỷ-kheo, và xem tại nhà của thợ gốm Ghatikara có cỏ hay không?

When I said this, those mendicants said to me,.

"Khi được nghe nói vậy, này Ðại vương, các Tỷ-kheo bạch với Ta:

“Sir, there’s no grass there, but his workshop has a grass roof.”

"-- Bạch Thế Tôn, tại nhà của thợ gốm Ghatikara không có cỏ, nhưng nhà người ấy có mái cỏ".

“Then go to the workshop and strip the grass.” So that’s what they did.

"-- Này các Tỷ-kheo, hãy đi và rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara.

Then Ghaṭīkāra’s parents said to those mendicants,

"Rồi này Ðại vương, các Tỷ-kheo ấy rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara. Này Ðại vương, cha mẹ thợ gốm Ghatikara nói với các Tỷ-kheo ấy:

“Who’s stripping the grass from the workshop?”

"-- Quý vị là ai lại rút cỏ ngôi nhà?"

“It’s the mendicants, sister. The Buddha’s hut is leaking.”

"-- Này Ðại tỷ, ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột".

“Take it, sirs! Take it, my dears!”

"-- Hãy lấy đi, chư Hiền giả! Hãy lấy đi, chư Hiền giả!"

Then Ghaṭīkāra went up to his parents and said,

“Who stripped the grass from the workshop?”

"Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến thưa với cha mẹ như sau:

"-- Những ai đã rút cỏ khỏi ngôi nhà?"

“It was the mendicants, dear. It seems the Buddha’s hut is leaking.”

"-- Này Con, các Tỷ-kheo có nói: Ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột".

Then Ghaṭīkāra thought, “I’m so fortunate, so very fortunate, to be trusted so much by the Buddha Kassapa!” .

"Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: "Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy".

Then joy and happiness did not leave him for a fortnight, or his parents for a week. Then the workshop remained with the sky for a roof for the whole three months, but no rain fell on it. And that, great king, is what Ghaṭīkāra the potter is like.’

"Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần, (không rời khỏi) cha mẹ thợ gốm. Rồi suốt cả ba tháng trời, ngôi nhà đứng lấy bầu trời làm mái, nhưng không có mưa rơi vào. Và như vậy, này Ðại vương, là người thợ gốm Ghatikara.

‘Ghaṭīkāra the potter is fortunate, very fortunate, to be so trusted by the Buddha Kassapa.’

"-- Lợi ích thay, bạch Thế Tôn, cho thợ gốm Ghatikara; thật khéo lợi ích thay, bạch Thế Tôn cho thợ gốm Ghatikara, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng!"

Then King Kikī sent around five hundred cartloads of rice, soft saffron rice, and suitable sauce to Ghaṭīkāra. Then one of the king’s men approached Ghaṭīkāra and said,

Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, cho người đưa đến thợ gốm Ghatikara, khoảng năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn. Rồi này Ananda, những người nhà vua cử đi đến thợ gốm Ghatikara và nói:

Then one of the king’s men approached Ghaṭīkāra and said, ‘Sir, these five hundred cartloads of rice, soft saffron rice, and suitable sauce have been sent to you by King Kikī of Kāsī. Please accept them.’

"-- Này Tôn giả, năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn này, do Kiki, vua xứ Kasi, gởi đến cho Tôn giả, mong Tôn giả hãy nhận lấy".

‘The king has many duties, and much to do. I have enough. Let this be for the king himself.’

"-- Nhà vua rất nhiều phận sự, rất nhiều việc cần phải làm. Thật là vừa đủ cho tôi, được nhà vua nghĩ đến như thế này".

Ānanda, you might think: ‘Surely the brahmin student Jotipāla must have been someone else at that time?’ But you should not see it like this. I myself was the student Jotipāla at that time.”

-- Này Ananda, rất có thể Ông suy nghĩ như sau: "Lúc bây giờ, thanh niên Jotipala có thể là một người khác". Nhưng này Ananda, chớ có nghĩ như vậy. Lúc bấy giờ, Ta chính là thanh niên Jotipala.

That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda was happy with what the Buddha said.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Cập nhập ngày: Chủ nhật 11-4-2021

webmasters: Minh Hạnh & Thiện Pháp, Thủy Tú & Phạm Cương
 | | trở về đầu trang | Home page |